Browsing by Author Nguyễn, Thị Hoàng Hà

Jump to: 0-9 A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
or enter first few letters:  
Showing results 1 to 12 of 12
  • Nghiên cứu khả năng hấp phụ kim loại nặng và Asen của laterit đá ong huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Hoàng Phương Thảo; Nguyễn, Thị Hoàng Hà; Phạm, Thị Thuý; Nguyễn, Mạnh Khải; Trần Thị Huyền Nga (2016)

  • Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng hấp phụ kim loại nặng và As trong môi trường nước của laterit đá ong khu vực huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ở các nồng độ ban đầu khác nhau (2,5; 5; 10; 20; 50 mg/l). Kết quả của nghiên cứu này cho thấy dung lượng và hiệu suất hấp phụ kim loại bởi laterit Tam Dương theo thứ tự Zn>Cd>Mn >As >Pb. Dung lượng hấp phụ Pb, As, Cd, Zn, và Mn cao nhất của laterit Tam Dương lần lượt là 1553, 756, 397, 281 và 143 mg/kg và hiệu suất hấp phụ cao nhất lần lượt là 94, 76, 70, 56 và 37%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy lượng kim loại giảm đi trong dung dịch lớn hơn lượng kim loại hấp phụ trong laterit Tam Dương. Quá trình hấp phụ và kết tủa kim ...

  • item.jpg
  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Thị Hải;  Advisor: Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2017)

  • Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá khả năng xử lý các kim loại nặng As, Pb, Zn, Cd, Mn trong nước bằng bùn thải khu chế biến sắt Bản Cuôn cho thấy một số kết quả như sau: Thành phần khoáng vật chủ yếu của bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn là thạch anh, geothit, kaolinit, muscovit. Giá trị pHPZC của bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn là 5, với sự có mặt của nhóm điện tích hoạt động Si-O-Si, Si-OH cùng với diện tích bề mặt và điện tích bề mặt của mẫu vật liệu SBC2-BR lần lượt là 47,4 m2/g, 75 mmolc(-).Kg-1. Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của khối lượng, thời gian, nồng độ đến khả năng hấp phụ Mn, Zn, Cd, Pb và As của vật liệu SBC2-BR cho thấy khi tăng khối lượng vật liệu hấp phụ thì dung lượng hấp phụ giảm đ...

  • item.jpg
  • Thesis


  • Authors: Đặng, Ngọc Thăng;  Advisor: Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2017)

  • 1. Hạt vật liệu SBC2-400-10S được biến tính bằng 10% thủy tinh lỏng và nung ở 400 0C trong 3 giờ. Hạt vật liệu có thành phần thạch anh, gơtit, kaolinit, muscovit tương ứng là 43, 4, 12, 13%, tỷ lệ tan thấp <2%, pHPZC = 10,5, diện tích bề mặt và điện tích bề mặt lần lượt là 34,9 m2/g và 91 mmolc-1kg-1. 2. Kết quả thí nghiệm đẳng nhiệt cho thấy dung lượng hấp phụ tối đa Mn, Zn, Cd, Pb và As lần lượt là 1250, 1666, 1000, 2000 và 416 mg/kg. Khả năng hấp phụ KLN giảm dần theo thứ tự Pb > Cd > Zn > Mn > As. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian tiếp xúc và tỷ lệ khối lượng tối ưu để hạt vật liệu SBC2-400-10S có khả năng hấp phụ các KLN tốt nhất tương ứng là 12 giờ và 20 g/l. 3. Kết quả ...

  • Đánh giá khả năng xử lý asen trong đất của một số loài thực vật bản địa mọc xung quanh khu mỏ chì kẽm Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Thị Hoàng Hà; Bùi, Thị Kim Anh; Tống, Thị Thu Hà (2016)

  • Xử lý ô nhiễm môi trường bằng thực vật (Phytoremediation) là công nghệ được đánh giá có triển vọng do giá thành thấp, vận hành đơn giản và thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng xử lý asen (As) trong đất của 15 loài thực vật mọc xung quanh khu mỏ chì kẽm Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Hàm lượng As trong các loài thực vật và trong đất tương ứng đã được phân tích, đánh giá một cách chi tiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, loài Dương xỉ (Pteris vittata L.) có khả năng siêu tích lũy As với hàm lượng As lên đến 2300 mg/kgtrong thân - lá. Dựa vào hàm lượng As tích lũy trong thân - lá, hệ số vận chuyển và hệ số tích lũy, nghiên cứu đã chỉ ra một số loài thực vậ...

  • Đánh giá khả năng xử lý kim loại nặng trong nước sử dụng vật liệu chế tạo từ bùn thải mỏ chế biến sắt.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Lê, Sỹ Chính; Mai, Trọng Nhuận; Nguyễn, Xuân Hải; Nguyễn, Thị Hải; Đặng, Ngọc Thăng; Nguyễn, Tài Giang; Trần, Đăng Quy; Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2016)

  • Nghiên cứu này được tiến hành để đánh giá khả năng hấp phụ kim loại nặng trong nước của vật liệu SBC-400-10S chế tạo từ bùn thải do chế biến quặng sắt thuộc tỉnh Bắc Kạn với 10% thủy tinh lỏng, nung ở nhiệt độ ở 4000C trong 3 giờ. Thí nghiệm được thực hiện trong 25 ngày sử dụng dung dịch pha chế tương tự với nước thải khu chế biến khoáng sản tỉnh Bắc Kạn với nồng độ Mn, Pb, Zn, As và Cd lần lượt là 20; 20; 6; 1và 0,5mg/L. Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu SBC-400-10S có khả năng xử lý kim loại trong nước với hiệu suất Mn, Zn, Cd, Pb và As tương ứng là 27,9 - 97,6; 73,9 - 97,4; 51,0 - 53,0; 96,4 - 98,2 và 77,5 - 83,3%. Hàm lượng Pb, As, Cd và Mn trong nước sau hấp phụ cao hơn giới h...

  • Đánh giá khả năng xử lý đồng thời As, Cd và Pb trong điều kiện lọc qua hạt vật liệu chế tạo từ bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn, tỉnh Bắc Kạn.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Thị Hải; Đặng, Ngọc Thăng; Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2016)

  • Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng xử lý As, Cd và Pb trong môi trường nước thông qua thí nghiệm hấp phụ dạng cột của vật liệu SBC2-400 chế tạo từ bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn, tỉnh Bắc Kạn. Cột vật liệu có đường kính trong 3 cm, chiều dài 11,5 cm, dung tích 60 ml và khối lượng vật liệu được chèn 50g, với điều kiện dòng chảy liên tục theo chiều hướng lên trên, tốc độ dòng chảy 2 ml/phút. Hai thí nghiệm hấp phụ dạng cột được tiến hành đồng thời và liên tục trong 25 ngày với hàm lượng As, Cd, Pb ban đầu lần lượt là: 1,0; 0,5; 20 mg/l và 0,4; 0,1; 0,6 mg/l. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu suất xử lý As, Cd, Pb của vật liệu SBC2-400 đối với 2 thí nghiệm cột lần lượt dao độ...

  • BKT_00522.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Mai, Trọng Nhuận; Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2017)

  • Địa hóa môi trường trở thành một lĩnh vực khoa học từ những năm 1970, được công bố bởi Bormann và Likens (1967) và Hội Hóa học Mỹ (1971). Tuy nhiên, những nghiên cứu về địa hóa môi trường được thực hiện từ những năm 1760 (Cavendish, 1767). Các công trình nền tảng của địa hóa môi trường là các nghiên cứu về sinh quyển (Venatski), địa hóa cảnh quan (BB Polunov, AI Perenman), địa hóa biểu sinh (AI Fesman, KI Lukashev), địa hóa sinh thái (VV Kovalskii), địa hóa môi trường và sức khỏe (Thomas JS). Vào đầu những năm 2000, địa hóa môi trường phát triển theo các hướng: địa hóa kỹ thuật, địa hóa các chất ô nhiễm, địa hóa y học, địa hóa sinh thái, địa hóa nông nghiệp, địa hóa tai biến, địa hóa ...

Browsing by Author Nguyễn, Thị Hoàng Hà

Jump to: 0-9 A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
or enter first few letters:  
Showing results 1 to 12 of 12
  • Nghiên cứu khả năng hấp phụ kim loại nặng và Asen của laterit đá ong huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Hoàng Phương Thảo; Nguyễn, Thị Hoàng Hà; Phạm, Thị Thuý; Nguyễn, Mạnh Khải; Trần Thị Huyền Nga (2016)

  • Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng hấp phụ kim loại nặng và As trong môi trường nước của laterit đá ong khu vực huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ở các nồng độ ban đầu khác nhau (2,5; 5; 10; 20; 50 mg/l). Kết quả của nghiên cứu này cho thấy dung lượng và hiệu suất hấp phụ kim loại bởi laterit Tam Dương theo thứ tự Zn>Cd>Mn >As >Pb. Dung lượng hấp phụ Pb, As, Cd, Zn, và Mn cao nhất của laterit Tam Dương lần lượt là 1553, 756, 397, 281 và 143 mg/kg và hiệu suất hấp phụ cao nhất lần lượt là 94, 76, 70, 56 và 37%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy lượng kim loại giảm đi trong dung dịch lớn hơn lượng kim loại hấp phụ trong laterit Tam Dương. Quá trình hấp phụ và kết tủa kim ...

  • item.jpg
  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Thị Hải;  Advisor: Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2017)

  • Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá khả năng xử lý các kim loại nặng As, Pb, Zn, Cd, Mn trong nước bằng bùn thải khu chế biến sắt Bản Cuôn cho thấy một số kết quả như sau: Thành phần khoáng vật chủ yếu của bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn là thạch anh, geothit, kaolinit, muscovit. Giá trị pHPZC của bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn là 5, với sự có mặt của nhóm điện tích hoạt động Si-O-Si, Si-OH cùng với diện tích bề mặt và điện tích bề mặt của mẫu vật liệu SBC2-BR lần lượt là 47,4 m2/g, 75 mmolc(-).Kg-1. Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của khối lượng, thời gian, nồng độ đến khả năng hấp phụ Mn, Zn, Cd, Pb và As của vật liệu SBC2-BR cho thấy khi tăng khối lượng vật liệu hấp phụ thì dung lượng hấp phụ giảm đ...

  • item.jpg
  • Thesis


  • Authors: Đặng, Ngọc Thăng;  Advisor: Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2017)

  • 1. Hạt vật liệu SBC2-400-10S được biến tính bằng 10% thủy tinh lỏng và nung ở 400 0C trong 3 giờ. Hạt vật liệu có thành phần thạch anh, gơtit, kaolinit, muscovit tương ứng là 43, 4, 12, 13%, tỷ lệ tan thấp <2%, pHPZC = 10,5, diện tích bề mặt và điện tích bề mặt lần lượt là 34,9 m2/g và 91 mmolc-1kg-1. 2. Kết quả thí nghiệm đẳng nhiệt cho thấy dung lượng hấp phụ tối đa Mn, Zn, Cd, Pb và As lần lượt là 1250, 1666, 1000, 2000 và 416 mg/kg. Khả năng hấp phụ KLN giảm dần theo thứ tự Pb > Cd > Zn > Mn > As. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian tiếp xúc và tỷ lệ khối lượng tối ưu để hạt vật liệu SBC2-400-10S có khả năng hấp phụ các KLN tốt nhất tương ứng là 12 giờ và 20 g/l. 3. Kết quả ...

  • Đánh giá khả năng xử lý asen trong đất của một số loài thực vật bản địa mọc xung quanh khu mỏ chì kẽm Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Thị Hoàng Hà; Bùi, Thị Kim Anh; Tống, Thị Thu Hà (2016)

  • Xử lý ô nhiễm môi trường bằng thực vật (Phytoremediation) là công nghệ được đánh giá có triển vọng do giá thành thấp, vận hành đơn giản và thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng xử lý asen (As) trong đất của 15 loài thực vật mọc xung quanh khu mỏ chì kẽm Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Hàm lượng As trong các loài thực vật và trong đất tương ứng đã được phân tích, đánh giá một cách chi tiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, loài Dương xỉ (Pteris vittata L.) có khả năng siêu tích lũy As với hàm lượng As lên đến 2300 mg/kgtrong thân - lá. Dựa vào hàm lượng As tích lũy trong thân - lá, hệ số vận chuyển và hệ số tích lũy, nghiên cứu đã chỉ ra một số loài thực vậ...

  • Đánh giá khả năng xử lý kim loại nặng trong nước sử dụng vật liệu chế tạo từ bùn thải mỏ chế biến sắt.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Lê, Sỹ Chính; Mai, Trọng Nhuận; Nguyễn, Xuân Hải; Nguyễn, Thị Hải; Đặng, Ngọc Thăng; Nguyễn, Tài Giang; Trần, Đăng Quy; Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2016)

  • Nghiên cứu này được tiến hành để đánh giá khả năng hấp phụ kim loại nặng trong nước của vật liệu SBC-400-10S chế tạo từ bùn thải do chế biến quặng sắt thuộc tỉnh Bắc Kạn với 10% thủy tinh lỏng, nung ở nhiệt độ ở 4000C trong 3 giờ. Thí nghiệm được thực hiện trong 25 ngày sử dụng dung dịch pha chế tương tự với nước thải khu chế biến khoáng sản tỉnh Bắc Kạn với nồng độ Mn, Pb, Zn, As và Cd lần lượt là 20; 20; 6; 1và 0,5mg/L. Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu SBC-400-10S có khả năng xử lý kim loại trong nước với hiệu suất Mn, Zn, Cd, Pb và As tương ứng là 27,9 - 97,6; 73,9 - 97,4; 51,0 - 53,0; 96,4 - 98,2 và 77,5 - 83,3%. Hàm lượng Pb, As, Cd và Mn trong nước sau hấp phụ cao hơn giới h...

  • Đánh giá khả năng xử lý đồng thời As, Cd và Pb trong điều kiện lọc qua hạt vật liệu chế tạo từ bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn, tỉnh Bắc Kạn.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Thị Hải; Đặng, Ngọc Thăng; Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2016)

  • Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng xử lý As, Cd và Pb trong môi trường nước thông qua thí nghiệm hấp phụ dạng cột của vật liệu SBC2-400 chế tạo từ bùn thải mỏ sắt Bản Cuôn, tỉnh Bắc Kạn. Cột vật liệu có đường kính trong 3 cm, chiều dài 11,5 cm, dung tích 60 ml và khối lượng vật liệu được chèn 50g, với điều kiện dòng chảy liên tục theo chiều hướng lên trên, tốc độ dòng chảy 2 ml/phút. Hai thí nghiệm hấp phụ dạng cột được tiến hành đồng thời và liên tục trong 25 ngày với hàm lượng As, Cd, Pb ban đầu lần lượt là: 1,0; 0,5; 20 mg/l và 0,4; 0,1; 0,6 mg/l. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu suất xử lý As, Cd, Pb của vật liệu SBC2-400 đối với 2 thí nghiệm cột lần lượt dao độ...

  • BKT_00522.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Mai, Trọng Nhuận; Nguyễn, Thị Hoàng Hà (2017)

  • Địa hóa môi trường trở thành một lĩnh vực khoa học từ những năm 1970, được công bố bởi Bormann và Likens (1967) và Hội Hóa học Mỹ (1971). Tuy nhiên, những nghiên cứu về địa hóa môi trường được thực hiện từ những năm 1760 (Cavendish, 1767). Các công trình nền tảng của địa hóa môi trường là các nghiên cứu về sinh quyển (Venatski), địa hóa cảnh quan (BB Polunov, AI Perenman), địa hóa biểu sinh (AI Fesman, KI Lukashev), địa hóa sinh thái (VV Kovalskii), địa hóa môi trường và sức khỏe (Thomas JS). Vào đầu những năm 2000, địa hóa môi trường phát triển theo các hướng: địa hóa kỹ thuật, địa hóa các chất ô nhiễm, địa hóa y học, địa hóa sinh thái, địa hóa nông nghiệp, địa hóa tai biến, địa hóa ...