Browsing by Author Trịnh Tam Kiệt

Jump to: 0-9 A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
or enter first few letters:  
Showing results 1 to 20 of 22
  • Hệ thống của nấm tới các Taxon lớn theo quan điểm hiện đại.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Những nghiên cứu về chủng loại phát sinh và phân loại nấm đạt nhiều tiến bộ nhanh chóng trong vài thập niên vừa qua chính là nhờ những bước tiến trong công nghệ giải trình tự ADN và các phương pháp phân tích. Số lượng lớn dữ liệu trình tự là kết quả và sáng kiến của nhiều nhà nghiên cứu khi cải thiện quy trình ổn định để xác định sự phát sinh chủng loại của nhiều bậc phân loại nấm. Đặc biệt dự án "Mạng lưới Nghiên cứu Phối hợp" do Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ (NSF) tài trợ nghiên cứu về sự phát sinh chủng loại nấm (Deep Hypha) trong 5 năm đã tạo điều kiện cho hơn 100 nhà phân loại nấm đánh giá các taxon đại diện, chỉ thị phân tử và các phương pháp phân tích cần thiết để hỗ trợ dự án. Sau ...

  • MỘT SỐ LOÀI NẤM MỚI THU THẬP Ở NAM BỘ VÀ ĐÀ LẠT- LÂM ĐỒNG.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Cổ Đức Trọng; Trịnh Tam Kiệt (2012-03-20)

  • Việt Nam được coi như là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao. Khu hệ động vật và thực vật bậc cao đã được nghiên cứu khá đầy đủ. Nhưng các vi sinh vật bậc thấp nói chung và nấm nói riêng mới chỉ được nghiên cứu bước đầu. Những thông tin cập nhật gần đây cho thấy tới năm 2012 khoảng 3000 loài nấm đã được ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam trong đó có khoảng 1800 loài nấm lớn (Kiệt, 2011, 2012). Tuy vậy, những nghiên cứu về nấm lớn ở Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên được tiến hành phần nào còn ít hơn các vùng khác của Việt Nam. Các nghiên cứu ban đầu của Joly P. (1968), Joly P., Perreau J. (1997), Dorfelt, H., Trinh Tam Kiet, Berg, A. (2004) … cho thấy khu hệ nấm của khu vực này rất ...

  • Một số loài nấm mới thu thập ở núi Ngọc Linh tỉnh Quảng Nam.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trần Thị Phú; Trịnh Tam Kiệt (2012-11-15)

  • Những nghiên cứu về nấm lớn ở Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên đã được một số tác giả đề cập đến trong các công bố của mình như: Patouillard, N.(1923,1928), Joly P. (1968), Joly P., Perreau J. (1997), Dorfelt , H., Trinh Tam Kiet, Berg, A. (2004)... Tuy nhiên so với các khu vực khác thì những nghiên cứu về nấm còn ít được tiến hành, mặc dù khu hệ nấm của khu vực này dự đoán là rất phong phú. Việc thu nhập và định loại các loài nấm của vùng Tây Nguyên và Trung Bộ có ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn rất đáng kể. Trong bài báo này, chúng tôi giới thiệu một số loại nấm mới thu nhập ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam, một khu vực mà hầu như còn chưa được nghiên cứu.

  • MỘT SỐ LOÀI NẤM TÁN MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ NẤM VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Trịnh Tam Anh (2012-08-15)

  • Thành phần loài nấm Việt Nam được công bố trong danh mục các loài thực vật Việt Nam (phần Nấm – Trịnh Tam Kiệt và các tác giả khác, 2001) gồm 2250 loài trong đó có 1250 loài nấm lớn. Sau khoảng một thập kỷ nghiên cứu, số loài nấm nói chung đã ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam khoảng 2500 loài (Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Tam Bảo, 2011) trong đó số lượng các loài nấm tán thuộc Agaricales senu lato khoảng hơn 300 loài. Nếu ước tính số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (theo ước tính của Hawksworth, 1991-2001) thì số loài nấm có thể có trên lãnh thổ lên tới 70.000 loài. Điều đó có nghĩa là hiện nay chúng ta mới ghi nhận được khoảng 1/5 số loài có thể có ...

  • MỘT SỐ LOÀI NẤM TÚI HAI MẢNH VỎ (BITUNICATE ASCOMYCETES) MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ NẤM VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Văn Diễn; Trịnh Tam Kiệt (2012-05-22)

  • Theo đánh giá của giới khoa học, Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về đa dạng sinh học trong đó có đa dạng nấm nói chung và đa dạng nấm túi hai lớp vỏ nói riêng [1]. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình khoa học nghiên cứu riêng về nấm túi hai lớp vỏ. Các công bố về nấm túi hai lớp vỏ chỉ được phát hiện và công bố qua các công trình khoa học công nghệ có liên quan. Theo tài liệu mới đây nhất, cuốn "Danh mục các loài thực vật Việt Nam" xuất bản năm 2001, Trinh Tam Kiệt, Đặng Vũ Thị Thanh và Hà Minh Trung đã công bố danh sách có 179 loài nấm túi thuộc 69 chi,..họ, 17 bộ. Trong đó chỉ có bộ Dothieales gồm 10 họ với 40 loài, họ Hysteriaceae với 1 loài thuộc chi Hysterium và họ Pol...

  • NẤM INONOTUS AFF. RICKII MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ NẤM VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NÓ.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Vũ Thị Kim Ngân; Thân Thị Chiển; Trịnh Thị Tam Bảo; Trịnh Tam Anh; Cổ Đức Trọng (2010)

  • Các loại nấm gây bệnh cây rừng ở một số vườn quốc gia, rừng trồng và công viên của một số tỉnh và thành phố mới được cập nhật với khoảng hơn 100 loài. Chúng phần lớn là các loài sống ký sinh, hoại sinh; nhờ hệ men chuyển hóa của mình có khả năng ký sinh gây mục lõi, mục trắng, mục nâu hay mục hỗn hợp ở cây và gỗ đã chặt hạ. Bên cạnh các đại diện nấm lỗ thuộc họ Ganodermataceae, Coriolaceae,... thì các đại diện của họ Hymenochaetaceae cũng đóng vai trò rất quan trọng. Những dẫn liệu về đặc điểm phân loại và sinh học của một loài nấm ký sinh nguy hiểm cho các cây gỗ của rừng và công viên mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam được trình bày dưới đây.

  • Nghiên cứu công nghệ nhân giống nấm sò vua (Pleurotus eryngII) dạng dịch thể.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Cồ Thị Thùy Vân; Trịnh Tam Kiệt (2012-07-20)

  • Nấm sò vua có tên khoa học là Pleurotus eryngii, là loại nấm ăn ngon, giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao gấp 4-6 lần loại rau thông thường khác. Quả thể nấm Sò vua có kích thước lớn, hình dạng đẹp. Do những ưu điểm này mà nấm được gọi là "King Oyster mushroom". Nấm Sò vua còn chứa đủ 8 loại axit amin không thay thế. Chính vì vậy, việc nuôi trồng nấm sò vua và nấm sò nói chung đang được đẩy mạnh ở Việt Nam. Nhu cầu giống nấm sò rất lớn. Vì thế bên cạnh nhân giống theo phương pháp truyền thống, việc nhân giống nấm trong dung dịch đang được đặt ra khá bức thiết.

  • Nghiên cứu lai tạo một số chủng nấm sò thương phẩm.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Thân Thị Chiển; Ngô Xuân Nghiễn; Nguyễn Thị Bích Thùy (2011-11-01)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr) P.Kumm bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên thân gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là Pleurotus ostreatus, Pleurotus sajorcaju, Pleurotus pulmonarius và đặc biệt trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng có khả năng thích nghi với biên độ nhiệt rộng. Pleurotus ostreatus (Jacq) Quel là một loại dị tản hai yếu tố (bifactorial heterothalism) được xác định đầu tiên bởi Vandendries (1933). Trên đảm hình thành 4 đảm bào tử, thuộc 4 dãy khác nhau (tretrapolar). Khi gặp điều kiện thuận lợi các bào tử đảm này nảy mầm cho hệ sợi đơn bội, có vách ngăn không có kh...

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM MỘC NHĨ AURICULARIA CỦA VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Đoàn Văn Vệ; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • The species of the edible genus fungi Auricularia in differential ecological regions of Vietnam were collected and indentificated. The main characteristics, of basidiospores on the hymenium and hairs on the sterile surface were investigated under scanning electronic microscope. The main species are discribed: Auricularia auricula (Hook) Underw., Auricularia cornea (Fr.) Ehrenb., Auricularia delicata (Fr.) P. Henn., Auricularia fuscosuccinea (Mont.) Farlow., Auricularia polytricha (Mont.) Sacc.), Auricularia mesenterica Petz.: Fr., Auricularia velutina (Lev.) Pat.

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM NGÂN NHĨ TREMELLALES CỦA VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Đoàn Văn Vệ; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Cùng với mộc nhĩ (Auriculariales), các loài ngân nhĩ (Tremellales) là những nấm ăn quý được coi là thực phẩm cao cấp có giá trị rất cao bởi chứa nhiều muối khoáng và vitamin. Chúng thường có quả thể chất keo, khi khô trở nên chất sừng và bảo quản tương đối dễ dàng. Trước đây các nhà nấm học xếp ngân nhĩ cùng với mộc nhĩ vào lớp phụ nấm cách đảm khuẩn Phargmobasidiomycetidae nhưng gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về hệ thống của chúng. Dưới đây là những kết quả thu được của chúng tôi về nhóm nấm này ở Việt Nam trong thời gian qua.

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CHI NẤM LY COOKEINA KUNTZE VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Phan Văn Hợp (2008)

  • Chi nấm Ly Cookeina thuộc họ Sarcoscyphaceae (Pezizales) là một chi nấm có khu phân bố liên nhiệt đới bao gồm 7 loài đã được ghi nhận trên toàn thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng đặc trưng bởi có quả thể (nang quả) hình ly, có thể phủ lông thô hoặc lông mịn và có hoặc không có lớp nhày ở phía ngoài mô. Lớp bào tầng ở phía trong ly thường có chứa sắc tố carotenoid với các sắc độ rất khác nhau giữa các loài thậm chí ngay trong cùng một loài. Những nghiên cứu sinh học phân tử sử dụng rDNA, ITS và r DNA LSU sequences cho thấy mối quan hệ chủng loại của chúng [5]. Ở Việt Nam các loài Cookeina thường mọc trong rừng mưa ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới trên các ...

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ ĐẠI DIỆN THUỘC HỌ NẤM TÁN PLUTEACEAE.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt (2012-11-12)

  • Trong số các loài nấm lớn, họ nấm tán Pluteaceae được biết đến gồm các loài nấm có kích thước nhỏ đến trung bình, có phiến đính tự do và bào tử màu hồng. Họ pluteaceae bao gồm 2 chi Volvariella và Pluteus có phân bố rộng rãi và 2 chi Chamaeota và Volvopluteus mới được mô tả năm 2011 dựa trên các kết quả của các phân tích về sinh học phân tử còn chưa được dẫn ra trong từ điển nấm của Kirk và các tác giả khác. Trong các loài thuộc họ này, loài Volvariella volvacea được chú ý hơn cả bởi giá trị dược liệu và giá trị thực phẩm của nó, loài này có khu phân bố rộng rãi và cho phép nuôi trồng chủ động với số lượng ngày càng lớn nên có ý nghĩa kinh tế cao. Việc nghiên cứu thành phần loài nấm t...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NUÔI TRỒNG NẤM ĐẦU KHỈ HERICIUM ERINACEUM (BULL.FR) PERS.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Cồ Thị Thùy Vân; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Nấm đầu khỉ là loại nấm ưa khí hậu vùng ôn đới, được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Bắc mỹ, Châu Á, nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng, đã và đang được các nước tiên tiến trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình từ phân lập giống, nhân giống, nuôi trồng, bảo quản và chiết suất các chất có hoạt tính sinh học phục vụ nền y học hiện đại. Hiện nay, nấm đầu khỉ được người dân nhiều nước trên thế giới sử dụng như một sản phẩm giàu dinh dưỡng và có giá trị dược liệu khá cao. Nấm đầu khỉ được biết đến như một nguồn dược liệu tự nhiên trong phòng, chữa một số bệnh trong đó có ung thư, các bệnh liên quan đến tiêu hóa, chức năng gan, dạ dầy, mỡ máu, huyết áp, tim ...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM SÒ VUA PLEUROTUS ERYNGII (DC. EX FR.) QUEL..pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Vi Minh Thuận; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr.) P. Kumm. Với một số dạng không hoàn chỉnh hình thành đính bào tử thuộc chi Antromycopsis bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Nấm sò có khu phân bố khá rộng trên khắp thế giới. Nhiều loài nấm ăn quý đồng thời cũng là nấm có giá trị dược liệu và được nuôi trồng rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Chi này chỉ có một loài nấm độc là Pleurotus olearius. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là pleurotus ostreatus, pleurotus sajor – caju, pleurotus pulmonarius và đặc biệt là trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng là loài n...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM VÂN CHI TRAMETES VERSICOLOR (LINNAEUS. FRIES) PILAT.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Các loài nấm dược liệu của Việt Nam đã được xác định bao gồm 210 loài [4], thuộc Nấm bất toàn (Mitosporic Fungi), Nấm Nang (Ascomycota), Nấm Đảm (Basidiomycota); trong đó ưu thế tuyệt đối thuộc về nấm Đảm (Basidiomycota) với 203 loài thuộc lớp Agaricomycetes. Trong Agaricomycetes, ưu thế loài thuộc về các bộ: Hymenochaetales, Poriales, Polyporales, Russulales, Agaricales… Các loài nấm dược liệu của Việt Nam sống trên gỗ (cây sống và đã chặt hạ, gãy đổ, chết…) chiếm ưu thế rõ rệt; trong đó có các loài có quả thể chất bần (lie), chất bì dai, chất gỗ có số lượng và trữ lượng lớn và rất giàu các chất có hoạt tính sinh học. Nhiều loài nấm dược liệu của Việt Nam có thể phân lập thuần khiết,...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ CHỦNG NẤM RƠM VOLVARIELLA VOLVACEA.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt; Phan Hữu Tôn (2008)

  • Trong sản xuất nuôi trồng và chọn tạo giống nấm rơm ưu thế lai, nghiên cứu các đặc tính sinh học của từng chủng và đa dạng di truyền giữa chúng đóng vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng nấm và sự thành công trong công tác chọn tạo giống. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nấm rơm Volvariella volcacea là loài đồng tản sơ cấp, có mũ nấm rộng, có tốc độ mọc nhanh, có khả năng hình thành hậu bào tử. Nó có thể mọc tốt ở 43 độ C nhưng không thể chịu được nhiệt độ lạnh dưới 10 độ C (S. T. Chang, 1978). Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, sử dụng kỹ thuật AP- PCR đã thu được sự đa hình về các đoạn DNA được nhân lên trong các cơ thể bố mẹ và con lai của 2 loài nấm rơm V. volcacea và ...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ CHỦNG NẤM SÒ VUA PLEUROTUS ERYNGII.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Khuất Hữu Trung; Ngô Xuân Nghiễn; Cồ Thùy Vân; Trịnh Tam Kiệt (2012-07-30)

  • The King Oyster mushroom strains was cultivated on agar medium. The experiment results indicated that the King Oyster mushroom mycelium grew best at 26 °C± 1. when the temperature is below 22 degrees, body fruit formation is appeared, body fruit formation of E1-E5 strains do not develop into mature body fruit, E6 strains develop into mature fruit. Studies of genetic diversity in six Pleurotus eryngii strains with 23 RAPD primers. Results obtained: The genetic similarity coefficient of the samples ranged from 0.64 to 0.85; coefficient of genetic similarity of E6 strain with other strains is low (0.64 to 0.68); two samples 3 and 4 have the highest similarity coefficient is 0.85.

  • POISONOUS MUSHROOMS OF VIETNAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Vietnam is considered as one of countries in the world with the greated biodiversity. Until 2007, about 2300 fungal species were reported from Vietnam including 1300 species of macro fungi (Kiet, 2001, 2007). They have long been valued as tasty food and high effective pharmaceutical material. Many others also are determinated as very dangerous poisonous mushroom. In this paper we would like to give the list of the poisonous mushrooms in Vietnam

Browsing by Author Trịnh Tam Kiệt

Jump to: 0-9 A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
or enter first few letters:  
Showing results 1 to 20 of 22
  • Hệ thống của nấm tới các Taxon lớn theo quan điểm hiện đại.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Những nghiên cứu về chủng loại phát sinh và phân loại nấm đạt nhiều tiến bộ nhanh chóng trong vài thập niên vừa qua chính là nhờ những bước tiến trong công nghệ giải trình tự ADN và các phương pháp phân tích. Số lượng lớn dữ liệu trình tự là kết quả và sáng kiến của nhiều nhà nghiên cứu khi cải thiện quy trình ổn định để xác định sự phát sinh chủng loại của nhiều bậc phân loại nấm. Đặc biệt dự án "Mạng lưới Nghiên cứu Phối hợp" do Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ (NSF) tài trợ nghiên cứu về sự phát sinh chủng loại nấm (Deep Hypha) trong 5 năm đã tạo điều kiện cho hơn 100 nhà phân loại nấm đánh giá các taxon đại diện, chỉ thị phân tử và các phương pháp phân tích cần thiết để hỗ trợ dự án. Sau ...

  • MỘT SỐ LOÀI NẤM MỚI THU THẬP Ở NAM BỘ VÀ ĐÀ LẠT- LÂM ĐỒNG.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Cổ Đức Trọng; Trịnh Tam Kiệt (2012-03-20)

  • Việt Nam được coi như là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao. Khu hệ động vật và thực vật bậc cao đã được nghiên cứu khá đầy đủ. Nhưng các vi sinh vật bậc thấp nói chung và nấm nói riêng mới chỉ được nghiên cứu bước đầu. Những thông tin cập nhật gần đây cho thấy tới năm 2012 khoảng 3000 loài nấm đã được ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam trong đó có khoảng 1800 loài nấm lớn (Kiệt, 2011, 2012). Tuy vậy, những nghiên cứu về nấm lớn ở Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên được tiến hành phần nào còn ít hơn các vùng khác của Việt Nam. Các nghiên cứu ban đầu của Joly P. (1968), Joly P., Perreau J. (1997), Dorfelt, H., Trinh Tam Kiet, Berg, A. (2004) … cho thấy khu hệ nấm của khu vực này rất ...

  • Một số loài nấm mới thu thập ở núi Ngọc Linh tỉnh Quảng Nam.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trần Thị Phú; Trịnh Tam Kiệt (2012-11-15)

  • Những nghiên cứu về nấm lớn ở Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên đã được một số tác giả đề cập đến trong các công bố của mình như: Patouillard, N.(1923,1928), Joly P. (1968), Joly P., Perreau J. (1997), Dorfelt , H., Trinh Tam Kiet, Berg, A. (2004)... Tuy nhiên so với các khu vực khác thì những nghiên cứu về nấm còn ít được tiến hành, mặc dù khu hệ nấm của khu vực này dự đoán là rất phong phú. Việc thu nhập và định loại các loài nấm của vùng Tây Nguyên và Trung Bộ có ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn rất đáng kể. Trong bài báo này, chúng tôi giới thiệu một số loại nấm mới thu nhập ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam, một khu vực mà hầu như còn chưa được nghiên cứu.

  • MỘT SỐ LOÀI NẤM TÁN MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ NẤM VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Trịnh Tam Anh (2012-08-15)

  • Thành phần loài nấm Việt Nam được công bố trong danh mục các loài thực vật Việt Nam (phần Nấm – Trịnh Tam Kiệt và các tác giả khác, 2001) gồm 2250 loài trong đó có 1250 loài nấm lớn. Sau khoảng một thập kỷ nghiên cứu, số loài nấm nói chung đã ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam khoảng 2500 loài (Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Tam Bảo, 2011) trong đó số lượng các loài nấm tán thuộc Agaricales senu lato khoảng hơn 300 loài. Nếu ước tính số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (theo ước tính của Hawksworth, 1991-2001) thì số loài nấm có thể có trên lãnh thổ lên tới 70.000 loài. Điều đó có nghĩa là hiện nay chúng ta mới ghi nhận được khoảng 1/5 số loài có thể có ...

  • MỘT SỐ LOÀI NẤM TÚI HAI MẢNH VỎ (BITUNICATE ASCOMYCETES) MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ NẤM VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Văn Diễn; Trịnh Tam Kiệt (2012-05-22)

  • Theo đánh giá của giới khoa học, Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về đa dạng sinh học trong đó có đa dạng nấm nói chung và đa dạng nấm túi hai lớp vỏ nói riêng [1]. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình khoa học nghiên cứu riêng về nấm túi hai lớp vỏ. Các công bố về nấm túi hai lớp vỏ chỉ được phát hiện và công bố qua các công trình khoa học công nghệ có liên quan. Theo tài liệu mới đây nhất, cuốn "Danh mục các loài thực vật Việt Nam" xuất bản năm 2001, Trinh Tam Kiệt, Đặng Vũ Thị Thanh và Hà Minh Trung đã công bố danh sách có 179 loài nấm túi thuộc 69 chi,..họ, 17 bộ. Trong đó chỉ có bộ Dothieales gồm 10 họ với 40 loài, họ Hysteriaceae với 1 loài thuộc chi Hysterium và họ Pol...

  • NẤM INONOTUS AFF. RICKII MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ NẤM VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NÓ.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Vũ Thị Kim Ngân; Thân Thị Chiển; Trịnh Thị Tam Bảo; Trịnh Tam Anh; Cổ Đức Trọng (2010)

  • Các loại nấm gây bệnh cây rừng ở một số vườn quốc gia, rừng trồng và công viên của một số tỉnh và thành phố mới được cập nhật với khoảng hơn 100 loài. Chúng phần lớn là các loài sống ký sinh, hoại sinh; nhờ hệ men chuyển hóa của mình có khả năng ký sinh gây mục lõi, mục trắng, mục nâu hay mục hỗn hợp ở cây và gỗ đã chặt hạ. Bên cạnh các đại diện nấm lỗ thuộc họ Ganodermataceae, Coriolaceae,... thì các đại diện của họ Hymenochaetaceae cũng đóng vai trò rất quan trọng. Những dẫn liệu về đặc điểm phân loại và sinh học của một loài nấm ký sinh nguy hiểm cho các cây gỗ của rừng và công viên mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam được trình bày dưới đây.

  • Nghiên cứu công nghệ nhân giống nấm sò vua (Pleurotus eryngII) dạng dịch thể.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Cồ Thị Thùy Vân; Trịnh Tam Kiệt (2012-07-20)

  • Nấm sò vua có tên khoa học là Pleurotus eryngii, là loại nấm ăn ngon, giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao gấp 4-6 lần loại rau thông thường khác. Quả thể nấm Sò vua có kích thước lớn, hình dạng đẹp. Do những ưu điểm này mà nấm được gọi là "King Oyster mushroom". Nấm Sò vua còn chứa đủ 8 loại axit amin không thay thế. Chính vì vậy, việc nuôi trồng nấm sò vua và nấm sò nói chung đang được đẩy mạnh ở Việt Nam. Nhu cầu giống nấm sò rất lớn. Vì thế bên cạnh nhân giống theo phương pháp truyền thống, việc nhân giống nấm trong dung dịch đang được đặt ra khá bức thiết.

  • Nghiên cứu lai tạo một số chủng nấm sò thương phẩm.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Thân Thị Chiển; Ngô Xuân Nghiễn; Nguyễn Thị Bích Thùy (2011-11-01)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr) P.Kumm bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên thân gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là Pleurotus ostreatus, Pleurotus sajorcaju, Pleurotus pulmonarius và đặc biệt trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng có khả năng thích nghi với biên độ nhiệt rộng. Pleurotus ostreatus (Jacq) Quel là một loại dị tản hai yếu tố (bifactorial heterothalism) được xác định đầu tiên bởi Vandendries (1933). Trên đảm hình thành 4 đảm bào tử, thuộc 4 dãy khác nhau (tretrapolar). Khi gặp điều kiện thuận lợi các bào tử đảm này nảy mầm cho hệ sợi đơn bội, có vách ngăn không có kh...

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM MỘC NHĨ AURICULARIA CỦA VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Đoàn Văn Vệ; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • The species of the edible genus fungi Auricularia in differential ecological regions of Vietnam were collected and indentificated. The main characteristics, of basidiospores on the hymenium and hairs on the sterile surface were investigated under scanning electronic microscope. The main species are discribed: Auricularia auricula (Hook) Underw., Auricularia cornea (Fr.) Ehrenb., Auricularia delicata (Fr.) P. Henn., Auricularia fuscosuccinea (Mont.) Farlow., Auricularia polytricha (Mont.) Sacc.), Auricularia mesenterica Petz.: Fr., Auricularia velutina (Lev.) Pat.

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM NGÂN NHĨ TREMELLALES CỦA VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Đoàn Văn Vệ; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Cùng với mộc nhĩ (Auriculariales), các loài ngân nhĩ (Tremellales) là những nấm ăn quý được coi là thực phẩm cao cấp có giá trị rất cao bởi chứa nhiều muối khoáng và vitamin. Chúng thường có quả thể chất keo, khi khô trở nên chất sừng và bảo quản tương đối dễ dàng. Trước đây các nhà nấm học xếp ngân nhĩ cùng với mộc nhĩ vào lớp phụ nấm cách đảm khuẩn Phargmobasidiomycetidae nhưng gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về hệ thống của chúng. Dưới đây là những kết quả thu được của chúng tôi về nhóm nấm này ở Việt Nam trong thời gian qua.

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CHI NẤM LY COOKEINA KUNTZE VIỆT NAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Phan Văn Hợp (2008)

  • Chi nấm Ly Cookeina thuộc họ Sarcoscyphaceae (Pezizales) là một chi nấm có khu phân bố liên nhiệt đới bao gồm 7 loài đã được ghi nhận trên toàn thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng đặc trưng bởi có quả thể (nang quả) hình ly, có thể phủ lông thô hoặc lông mịn và có hoặc không có lớp nhày ở phía ngoài mô. Lớp bào tầng ở phía trong ly thường có chứa sắc tố carotenoid với các sắc độ rất khác nhau giữa các loài thậm chí ngay trong cùng một loài. Những nghiên cứu sinh học phân tử sử dụng rDNA, ITS và r DNA LSU sequences cho thấy mối quan hệ chủng loại của chúng [5]. Ở Việt Nam các loài Cookeina thường mọc trong rừng mưa ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới trên các ...

  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ ĐẠI DIỆN THUỘC HỌ NẤM TÁN PLUTEACEAE.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt (2012-11-12)

  • Trong số các loài nấm lớn, họ nấm tán Pluteaceae được biết đến gồm các loài nấm có kích thước nhỏ đến trung bình, có phiến đính tự do và bào tử màu hồng. Họ pluteaceae bao gồm 2 chi Volvariella và Pluteus có phân bố rộng rãi và 2 chi Chamaeota và Volvopluteus mới được mô tả năm 2011 dựa trên các kết quả của các phân tích về sinh học phân tử còn chưa được dẫn ra trong từ điển nấm của Kirk và các tác giả khác. Trong các loài thuộc họ này, loài Volvariella volvacea được chú ý hơn cả bởi giá trị dược liệu và giá trị thực phẩm của nó, loài này có khu phân bố rộng rãi và cho phép nuôi trồng chủ động với số lượng ngày càng lớn nên có ý nghĩa kinh tế cao. Việc nghiên cứu thành phần loài nấm t...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NUÔI TRỒNG NẤM ĐẦU KHỈ HERICIUM ERINACEUM (BULL.FR) PERS.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Cồ Thị Thùy Vân; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Nấm đầu khỉ là loại nấm ưa khí hậu vùng ôn đới, được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Bắc mỹ, Châu Á, nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng, đã và đang được các nước tiên tiến trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình từ phân lập giống, nhân giống, nuôi trồng, bảo quản và chiết suất các chất có hoạt tính sinh học phục vụ nền y học hiện đại. Hiện nay, nấm đầu khỉ được người dân nhiều nước trên thế giới sử dụng như một sản phẩm giàu dinh dưỡng và có giá trị dược liệu khá cao. Nấm đầu khỉ được biết đến như một nguồn dược liệu tự nhiên trong phòng, chữa một số bệnh trong đó có ung thư, các bệnh liên quan đến tiêu hóa, chức năng gan, dạ dầy, mỡ máu, huyết áp, tim ...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM SÒ VUA PLEUROTUS ERYNGII (DC. EX FR.) QUEL..pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Vi Minh Thuận; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr.) P. Kumm. Với một số dạng không hoàn chỉnh hình thành đính bào tử thuộc chi Antromycopsis bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Nấm sò có khu phân bố khá rộng trên khắp thế giới. Nhiều loài nấm ăn quý đồng thời cũng là nấm có giá trị dược liệu và được nuôi trồng rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Chi này chỉ có một loài nấm độc là Pleurotus olearius. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là pleurotus ostreatus, pleurotus sajor – caju, pleurotus pulmonarius và đặc biệt là trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng là loài n...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM VÂN CHI TRAMETES VERSICOLOR (LINNAEUS. FRIES) PILAT.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Các loài nấm dược liệu của Việt Nam đã được xác định bao gồm 210 loài [4], thuộc Nấm bất toàn (Mitosporic Fungi), Nấm Nang (Ascomycota), Nấm Đảm (Basidiomycota); trong đó ưu thế tuyệt đối thuộc về nấm Đảm (Basidiomycota) với 203 loài thuộc lớp Agaricomycetes. Trong Agaricomycetes, ưu thế loài thuộc về các bộ: Hymenochaetales, Poriales, Polyporales, Russulales, Agaricales… Các loài nấm dược liệu của Việt Nam sống trên gỗ (cây sống và đã chặt hạ, gãy đổ, chết…) chiếm ưu thế rõ rệt; trong đó có các loài có quả thể chất bần (lie), chất bì dai, chất gỗ có số lượng và trữ lượng lớn và rất giàu các chất có hoạt tính sinh học. Nhiều loài nấm dược liệu của Việt Nam có thể phân lập thuần khiết,...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ CHỦNG NẤM RƠM VOLVARIELLA VOLVACEA.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt; Phan Hữu Tôn (2008)

  • Trong sản xuất nuôi trồng và chọn tạo giống nấm rơm ưu thế lai, nghiên cứu các đặc tính sinh học của từng chủng và đa dạng di truyền giữa chúng đóng vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng nấm và sự thành công trong công tác chọn tạo giống. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nấm rơm Volvariella volcacea là loài đồng tản sơ cấp, có mũ nấm rộng, có tốc độ mọc nhanh, có khả năng hình thành hậu bào tử. Nó có thể mọc tốt ở 43 độ C nhưng không thể chịu được nhiệt độ lạnh dưới 10 độ C (S. T. Chang, 1978). Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, sử dụng kỹ thuật AP- PCR đã thu được sự đa hình về các đoạn DNA được nhân lên trong các cơ thể bố mẹ và con lai của 2 loài nấm rơm V. volcacea và ...

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ CHỦNG NẤM SÒ VUA PLEUROTUS ERYNGII.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Khuất Hữu Trung; Ngô Xuân Nghiễn; Cồ Thùy Vân; Trịnh Tam Kiệt (2012-07-30)

  • The King Oyster mushroom strains was cultivated on agar medium. The experiment results indicated that the King Oyster mushroom mycelium grew best at 26 °C± 1. when the temperature is below 22 degrees, body fruit formation is appeared, body fruit formation of E1-E5 strains do not develop into mature body fruit, E6 strains develop into mature fruit. Studies of genetic diversity in six Pleurotus eryngii strains with 23 RAPD primers. Results obtained: The genetic similarity coefficient of the samples ranged from 0.64 to 0.85; coefficient of genetic similarity of E6 strain with other strains is low (0.64 to 0.68); two samples 3 and 4 have the highest similarity coefficient is 0.85.

  • POISONOUS MUSHROOMS OF VIETNAM.pdf.jpg
  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Vietnam is considered as one of countries in the world with the greated biodiversity. Until 2007, about 2300 fungal species were reported from Vietnam including 1300 species of macro fungi (Kiet, 2001, 2007). They have long been valued as tasty food and high effective pharmaceutical material. Many others also are determinated as very dangerous poisonous mushroom. In this paper we would like to give the list of the poisonous mushrooms in Vietnam