Please use this identifier to cite or link to this item: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19322
Title: 1 37763 616.86 CLE 1997 Getting beyond sobriety : clinical approaches to long-term recovery / Michael Craig Clemmens Clemmens, Michael Craig Jossey-bass publishers, 0 2
Authors: Trần, Nghi
Keywords: Cấu trúc địa chất thềm lục địa;Hoạt động địa chất thềm lục địa
Issue Date: 2017
Publisher: H. : ĐHQGHN
Abstract: Theo Ủy ban Thế giới về Danh pháp các dạng đáy biển, thềm lục địa được định nghĩa như sau: “Thềm lục địa là một đới bao quanh lục địa được giới hạn từ đường mực nước thấp nhất đến độ sâu mà ở đó bề mặt địa hình đáy biển thay đổi độ dốc đột ngột. Định nghĩa này chưa được nhiều nhà địa chất nhất trí, song nó khá dễ hiểu và quan trọng là làm rõ được các tiêu chuẩn của thềm lục địa, có thể khái quát như sau: - Có sự thống nhất chung cấu trúc địa chất của thềm lục địa và lục địa kế cận. - Vị trí thềm lục địa có tính đặc thù trong bối cảnh chung của địa hình đáy đại dương, chúng là phần rìa lục địa ngập nước, phần ngập nước của các đảo và gờ nâng. Đó là nơi đã và đang tác động hết sức mạnh mẽ đến các quá trình địa chất nội-ngoại sinh trong môi trường biển nông. - Còn bảo tồn các dạng địa hình trên cạn tàn dư. Điều đó chứng tỏ, cách đây không lâu đất liền đã từng có mặt ở thềm lục địa hiện nay. - Đới có bề mặt tương đối phẳng. Ranh giới ngoài của thềm lục địa có độ sâu đạt tối đa từ 200 đến 500-600 m hoặc sâu hơn, tùy theo cấu trúc địa chất sườn lục địa. Ở một số nơi, ranh giới này không rõ cho nên để bảo vệ ranh giới lãnh hải có nước lấy ranh giới ngoài ở độ sâu 600 m. Ở Biển Đông nước ta, do cấu trúc địa chất phức tạp của một kiểu biển rìa nên ranh giới ngoài có nơi độ sâu đạt tới hàng ngàn mét. Thềm lục địa chia ra thềm trong (phần giáp đất liền), thềm giữa và thềm ngoài (giáp sườn lục địa). Ranh giới giữa chúng được phân định tùy theo từng vùng. Phần ngoài cùng của thềm là mép thềm (shelf break). Cấu trúc vỏ Trái Đất ở thềm lục địa cũng tương tự như ở lục địa, có nghĩa là có lớp đá trầm tích, các lớp granit và basalt và mặt Moho nằm khá sâu. Thềm lục địa rất đa dạng về kích thước, địa hình, độ sâu và nguồn gốc thành tạo. Ở một số nơi, thềm lục địa rộng tới 500-1500 km, song nơi khác lại chỉ là một dải hẹp 15-70 km. Có những thềm địa hình đáy biển khá phẳng, chỉ nhô lên ít núi san hô hoặc vài lòng chảo nông; trái lại có nơi lại hết sức phức tạp, như ở thềm lục địa Việt Nam xuất hiện thêm các hẻm vực (canyon), các núi lửa ngầm và đảo san hô
Description: tr. 472-480.
URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19322
Appears in Collections:Thông tin địa chất và tài nguyên địa chất Việt Nam (LIC)

Files in This Item:
Thumbnail

  • File : BKT_00252.pdf
  • Description : 
  • Size : 1.43 MB
  • Format : Adobe PDF


  • Items in DSpace are protected by copyright, with all rights reserved, unless otherwise indicated.