Search

Current filters:

Search

Item hits:
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Bên cạnh việc sử dụng để định tuổi các đá và các khoáng vật thì các đồng vị phóng xạ còn được áp dụng rộng rãi trong các vấn đề địa chất khác. Tỷ lệ các đồng vị phóng xạ trên các đồng vị bền trong bất ký mẫu đã cho nào đều không cố định và phụ thuộc vào lịch sử của mẫu. Do đó tỷ lệ này có thể sử dụng làm công cụ nghiên cứu hữu ích về lịch sử các đá và các khoáng vật chứa chúng. Các đồng vị của các nguyên tố stronti, neodym và chì được sử dụng vào mục đích này

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Thuật ngữ Địa hóa học (Geochemistry) lần đầu tiên được nhà hóa học Thụy Sĩ- Đức Friedrich Christian Schönbein đưa ra năm 1838. Trong bài viết của mình, Schönbein đã dự đoán sự ra đời của một lĩnh vực nghiên cứu mới: "Địa hóa học đối sánh cần phải được khởi sướng trước khi địa hóa học có thể trở thành địa chất và trước khi những bí ẩn về nguồn gốc các hành tinh của chúng ta và các chất vô cơ của chúng có thể được tiết lộ". Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi công trình của Schönbein ra đới, lĩnh vực khoa học này bắt đầu được hiện thực, nhưng lúc đó Địa hóa học không được các nhà địa chất hay các nhà hóa học chấp nhận sử dụng và đã có những tranh luận để phân bua xem nó là đối tượng chính của ngành khoa học nào. Do không có sự hợp tác giữa các nhà địa chất và các nhà hóa học nên lĩ...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Phương pháp sinh địa hóa tìm kiếm khoáng sản dựa trên nghiên cứu thành phần hóa học của sinh vật, chủ yếu là thực vật. Giữa thành phần hóa học của sinh vật và thành phần của môi trường sống có mối liên quan hữu cơ và trong một số trường hợp thành phân hóa học của môi trường sống làm xuất hiện một số đặc điểm hình thái của sinh vật. Trong tìm kiếm sinh địa hóa không chỉ bao gồm việc phân tích thành phần hóa học của sinh vật mà còn theo dõi các đặc điểm hình thái của cây cối tao ra cơ sở cho nghiên cứu địa thảo mộc

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Hệ Mặt Trời (hay Thái Dương hệ) là một hệ tinh tú có Mặt Trời ở trung tâm và các thiên thể nằm trong phạm vi lực hấp dẫn của Mặt Trời, tất cả được hình thành từ sự suy sụp của một đám mây phân tử khổng lồ cách đây gần 4,6 tỷ năm. Đa phần các thiên thể quay quanh Mặt Trời và khối lượng tập trung chủ yếu vào các hành tinh có quỹ đạo gần tròn và mặt phẳng quỹ đạo gần trùng khít với nhau, gọi là mặt phẳng hoàng đạo. Bốn hành tinh nhỏ vòng trong gồm: sao Thủy (Mercury), sao Kim (Venus), Trái Đất và sao Hỏa (Mars); người ta còn gọi chúng là các hành tinh đá, do chúng có thành phần chủ yếu từ đá và kim loại. Bốn hành tinh khí khổng lồ vòng ngoài có khối lượng lớn hơn rất nhiều, gồm: sao Mộc (Jupiter) và sao Thổ (Saturn) có thành phần chủ yếu từ heli và hydro và hai hành tinh nằm ngoài cùn...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Quá trình tiến hóa của vũ trụ gắn liền với quá trình giãn nở và hình thành các thiên hà. Các kết quả quan sát và tính toán lý thuyết cho thấy rằng các thiên hà đã hình thành trong khoảng một tỷ năm sau Vụ nổ lớn (Big Bang) và từ đó các cấu trúc lớn hơn được hình thành như các nhóm thiên hà, đám thiên hà và siêu đám thiên hà. Các ngôi sao cũng già đi và tiến hóa, do đó các thiên hà xa xôi (ở giai đoạn sớm) sẽ rất khác các thiên hà gần hơn (ở giai đoạn muộn hơn). Hơn nữa, các thiên hà hình thành gần đây sẽ rất khác với các thiên hà cũng ở gần nhưng hình thành tại các giai đoạn rất sớm sau Vụ nổ lớn. Các quan sát này là các chứng cứ phủ nhận mô hình trạng thái dừng. Những kết quả nghiên cứu về sự hình thành các ngôi sao, sự phân bố của các thiên hà và các cấu trúc lớn hơn phù hợp với m...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Sinh quyển không đơn thuần là tổng lượng các cơ thể sống trên Trái Đất (tất cả động vật và thực vật), mà là không gian bao gồm khí quyển, thủy quyển và phần trên của thạch quyển, nơi tồn tại sự sống với mức độ khác nhau và có sự tác động tích cực trong chu trình địa hóa các nguyên tố hóa học. Sự sống của động vật và thực vật liên quan chặt chẽ với nước. Tất cả các loài động vật đều có các loại hình sử dụng nước là môi trường kiếm sống. Nếu như trong khí quyển cuộc sống khá tản mạn ở phần dưới, các vi sinh cuốn theo các dòng khí, thì ở thạch quyển sự sống chủ yếu diễn ra ở phần trên, còn trong đại dương sự sống xuất hiện ở mọi nơi và tác động địa hóa của nó trong môi trường biển thể hiện đầy đủ nhất. Mặc dù vậy, mật độ sinh vật trong đại dương chủ yếu nằm ở độ sâu không lớn, nơi các ...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Vấn đề về thành phần ban đầu của vũ trụ liên quan tới khởi điểm của vũ trụ đó là Vụ Nổ Lớn (Big Bang). Lý thuyết Vụ Nổ Lớn là mô hình vũ trụ học nổi bật miêu tả giai đoạn sơ khai của sự hình thành Vũ trụ. Lý thuyết này đã được kiểm chứng và được cộng đồng khoa học chấp nhận rộng rãi. Nó đưa ra cách giải thích hoàn thiện về nhiều loại hiện tượng quan sát thấy trong Vũ trụ.

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Trái Đất, cũng như bất kỳ một hành tinh nguyên thủy nào khác của hệ Mặt Trời, đã xuất hiện vào khoảng 4,6- 4,8 tỷ năm về trước nhờ quá trình tập hợp vật chất bụi vũ trụ ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của nó. Theo các số liệu hiện có thì giai đoạn phát triển sớm của Trái Đất là quá trình phân dị hóa học với quy mô toàn hành tinh. Quá trình này dẫn tới sự thành tạo nhân ở tâm và manti nguyên sinh bao quanh có thành phần silicat. Sự thành tạo vỏ đại dương và vỏ lục địa có thành phần alumosilicat là các sự kiện muộn hơn, liên quan tới quá trình hóa lý trong chính manti. Các hoạt động địa chất đã và đang tiếp diễn, tạo ra các tập hợp đa dạng các đá magma và trầm tích, đồng thời tạo ra một lớp vỏ nước bóc mòn và các chất khí của khí quyển.

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Xứ lý và luận giải các dữ liệu là khâu cuối cùng và rất quan trọng trong tìm kiếm địa hóa. Xử lý dữ liệu địa hóa là hệ thống hóa các dữ liệu và biểu diễn chúng dưới dạng toán học hay đồ giải. Luận giải các dị thường địa hóa là sự diễn đạt các lý luận về nguồn gốc, xác định sự phân bố các nguyên tố hóa học trong phạm vi trường địa hóa và cuối cùng là thể hiện mối liên quan của chúng với các khoáng hóa và các mỏ quặng. Công tác này không những đòi hỏi phải có kiến thức tốt về lý thuyết địa hóa mà còn cần phải có kinh nghiệm thực hành trong việc kiểm tra và đánh giá các dị thường (trên mức nền) của các nguyên tố để từ đó phát hiện ra các mỏ khoáng

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Văn Phổ (2017)

  • Kết quả của quá trình di chuyển của các nguyên tố tạo ra hai trạng thái phân bố chủ yếu của các nguyên tố là phân tán và tập trung. Phân tán là dạng phân bố phổ biến của các nguyên tố trong tự nhiên, trong đó hàm lượng của nó không vượt quá trị số hàm lượng trung bình của vỏ Trái Đất. Ngược lại, tập trung là trạng thái phân bố rất hạn chế của các nguyên tố, chỉ biểu hiện trong các khu vực hay các diện tích nhất định với hàm lượng của một (hay nhóm) nguyên tố có xu thế tiến tới hàm lượng của các mỏ khoáng sản. Như vậy, các mỏ khoáng sản chính là trạng thái tập trung của một (hay nhóm) nguyên tố nhất định cho phép khai thác có hiệu quả kinh tế.