Search

Current filters:

Search

Item hits:
  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Muối là loại đá trầm tích hoá học thuần tuý, gồm những khoáng vật có độ hoà tan lớn nhất. Chúng được lắng đọng từ dung dịch thật quá bão hoà, do kết quả của khí hậu khô nóng, nhiệt độ tăng cao lượng nước bốc hơi lớn hơn lượng nước mưa cung cấp. Các loại muối được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Thạch cao và anhydrit được sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng (xi măng). Trong công nghiệp hoá học, luyện kim, giấy, làm mô hình, phấn viết... Ngoài việc được sử dụng trong đời sống của con người, các loại muối clorua còn là những nguyên liệu quan trọng trong công nghịêp hoá học để sản xuất BaOH, Cl, Na, Mg. Loại muối sunfat Na được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp thuỷ tinh, hoá học. Các loại muối K và Mg được sử dụng trong công nghiệp làm phân bón.

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Các trường địa vật lý tiêu biểu của biển và đại dương là trường trọng lực và trường địa từ. Dị thường trọng lực xác định được vị trí phân bố tương đối của các địa khối có tỉ trọng khác nhau trong thạch quyển. Nhờ vậy có thể xác định được độ sâu ranh giới mặt Moho, các cấu trúc vĩ mô của vỏ Trái đất, hướng chuyển động nâng hạ của các mảng và địa khối, từ đó có thể xác định được các đứt gãy có tính chất hành tinh và khu vực. Trường địa từ là trường từ tự nhiên của Trái đất. Mỗi một loại đất đá có một dị thường từ đặc trưng, khi các địa khối tách giãn hoặc bị xoay do chuyển động kiến tạo thì hướng trục từ cũng bị xoay theo. Nhờ vậy giúp ta biết được hướng chuyển động và biên độ chuyển động của các mảng và địa khối. Dị thường từ đáy các đại dương có đặc điểm là tồn tại hệ thống dị thườ...

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Theo D. Emery và K.J. Myers, 1996 [1] địa tầng dãy là các đơn vị trầm tích cộng sinh với nhau lấp đầy một bể, ranh giới giữa các đơn vị thường trùng với mặt ranh giới hai tập trầm tích hoặc bề mặt gián đoạn trầm tích, mỗi đơn vị trầm tích này gọi là một dãy (sequence). Theo J.C. Van Wagoner, H.W. Posamentier, R.M. Mitchum, P.R. Vail, I.F. Sarg, T.S. Lautit và J. Hardenbol: "Địa tầng dãy là mối quan hệ giữa các đơn vị trầm tích có cùng nguồn gốc trong khung địa tầng được giới hạn với nhau bởi bề mặt bào mòn hoặc gián đoạn trầm tích hoặc chỉnh hợp tương đương". Một đơn vị cơ bản của địa tầng dãy là một dãy (một Sequence). Giữa chúng có ranh giới là các bề mặt bào mòn hoặc các bề mặt chỉnh hợp tương đương. Một dãy (Sequence) bao gồm 3 “Miền hệ thống trầm tích” (Systems tracts) và 2 ...

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Biển là các thủy vực nằm giữa đại lục hoặc nằm sát các đại lục và liên thông với đại dương qua các đảo và quần đảo. Theo địa mạo và độ sâu, biển được chia ra hai loại: loại đáy bằng phẳng và loại máng sâu hay biển nông và biển sâu. Biển nông thường có đáy phẳng đặc trưng cho miền nền hay gọi là biển á lục địa. Còn biển máng có đáy khá sâu và địa hình đáy phân cắt đặc trưng cho địa máng hay đới hút chìm. Tuy nhiên có ngoại lệ ví dụ như biển Java (Indonesia) có đáy phẳng song nước sâu và có khi trong một biển vì có rìa khác nhau nên mang sắc thái của cả hai loại (biển Đen, Kaspien). Theo mối tương quan với lục địa (đất liền) chia ra biển nội lục (giữa lục địa) và biển ven đại dương. Địa hình đáy nhiều biển có thể chia ra các yếu tố như đáy đại dương: thềm lục địa, sườn lục địa và ở m...

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Địa hình đáy biển và đại dương rất đa dạng do các quá trình địa chất quy định. Có hai quá trình chuyển động cơ bản, là phân kỳ và hội tụ, đã tạo nên các dạng địa hình khác nhau. Tuy nhiên, phân loại địa hình đáy biển và đại dương phải theo đặc điểm độ dốc, đặc điểm địa hình đáy và cấu trúc địa chất. Địa hình thềm lục địa bao gồm thềm trong, thềm ngoài, có độ dốc tương đối thoải (từ 0,5 đến 20) là kết quả của hai quá trình chuyển động nội sinh và ngoại sinh. Thềm lục địa rộng hay hẹp phụ thuộc vào kiểu rìa lục địa. Rìa thụ động thì thềm lục địa rộng và thoải. Ngược lại, rìa tích cực thì thềm hẹp và dốc. Địa hình sườn lục địa có bề mặt không bằng phẳng, tương đối dốc thay đổi từ 5 đến 450, phụ thuộc vào kiểu rìa lục địa. Rìa tích cực có sườn lục địa hẹp, phát triển nhiều núi lửa và ...

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • á trầm tích sắt là đá chứa nhiều khoáng vật sắt nguồn gốc trầm tích như: gơtit, hydrogơtit, hematit, hydrohematit, manhetit, leptoclorit (samozit), limonit, siderit, mackazit,... Ngoài ra còn lẫn nhiều khoáng vật khác như: canxit, glauconit, khoáng vật sét, silit, mảnh vụn cơ học (thạch anh, feldspat, mica...). Đôi khi trầm tích sắt tạo thành một thể quặng sắt trầm tích chứa 100% khoáng vật sắt như các mũ sắt limonit và gơtit.

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Đá chứa nhôm hay trầm tích nhôm là đá giàu khoáng vật oxyt và hydroxyt nhôm. Tùy theo hàm lượng Al2O3, Fe2O3, SiO2, chia ra các loại: - Đá alit: Khi hàm lượng Al2O3  2,8%, Modul SiO2: 1,1 - 2,6. - Bauxit: do nhà hóa học Berthier (1921) dùng để chỉ tên một loại đá màu nâu đỏ trong trầm tích Mesozoi ở vùng Baux miền đông nước Pháp. Bauxit có 2 nguồn gốc trầm tích và vỏ phong hóa. Thành phần khoáng vật của bauxit chủ yếu là gipxit (hidragilit) – Al(OH)3; bowmit, diaspo – AlO(OH); corindon – Al2O3. Ngoài ra, còn gặp oxyt và hydroxyt sắt dưới dạng các khoáng vật gowtit, hematit, hydrogotit.

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Đá sinh vật cháy là đá trầm tích nguồn gốc sinh vật, có thể đốt cháy được. Nó là một loại đá đặc biệt, vì không phải là sản phẩm phá hủy của một loại đá nào đó, cũng không phải phân ly từ dung dịch thật hay do sự ngưng keo, mà là sản phẩm của sinh vật (bao gồm động vật và thực vật) đã bị biến đổi thành vật chất hoàn toàn mới. Xuất phát từ đặc điểm đó. M.S. Svetsov (1968) đã tách các loại đá cháy được thành một nhóm độc lập, gọi là nhóm có nguồn gốc quang hợp. Bởi vì, sự phát triển của sinh vật, đặc biệt là thực vật, cũng như trong giai đoạn đầu của sự thành tạo các loại trầm tích này đều liên quan với nước, không khí và chịu sự tác dụng của năng lượng Mặt Trời.

  • Article


  • Authors: Trần, Nghi (2017)

  • Đá carbonat là một nhóm đá phổ biến trong các loại đá trầm tích, nhóm đá hoá học và sinh khoáng nói riêng. Phổ biến nhất và chiếm khối lượng chủ yếu vẫn là đá vôi, thứ đến là dolomit. Ngoài ra đá carbonat còn có sự pha tạp giữa carbonat và thành phần phi carbonat như sét, silit, vụn cơ học v.v. Khi đó tên gọi của đá carbonat cũng thay đổi theo. Trong lịch sử phát triển vỏ Trái Đất thời đại nào cũng tồn tại các biển và đại dương thế giới. Trầm tích carbonat là đặc trưng cho biển có độ kiềm khá cao (pH > 8,5). Tuy nhiên tính chất của carbonat cũng biến đổi theo thời gian gắn chặt với chế độ kiến tạo và kiểu bồn tạo carbonat. Ví dụ trong Cambri, Ocdovic, Silua, carbonat thường có dạng phân lớp mỏng, phân dải giầu bitum đặc trưng cho bồn dạng tuyến sâu. Song đến Devon đá vôi vừa có dạng...

  • Other


  • Authors: Vương, Đạo Vy; Trần, Nghi; Phạm, Đình Tuấn (2007)

  • Nghiên cứu bản chất cấu trúc mạng WSN (Wireless Sensore Network - Mạng cảm nhận không dây), công nghệ định tuyến và thu thập dữ liệu trong mạng WSN, làm tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về mạng WSN, xây dựng các ứng dụng trên cơ sở mạng WSN. Xây dựng hệ đo mức nước bằng đầu đo áp suất và truyền dữ liệu đo về máy tính bằng mạng cảm nhận không dây đạt được độ tuyến tính trong dải từ độ sâu từ 0 m đến 80m và độ chính xác + - 1,0cm, kết quả này có thể ứng dụng để đo độ sâu mức nước sông, suối, ao hồ ... đo lượng mưa. Viết phần mềm nhúng cho các nút mạng thực hiện chức năng đo truyền và định tuyến dữ liệu, viết phần mềm trên PC thu thập, quảng bá, xử lý và thực hiện chức năng báo động khi giá trị đo vượt ngưỡng. Kết quả này có thể ứng dụng để đo lâu dài, liên tục và cảnh báo sự cố tron...