Search

Current filters:

Search

Item hits:
  • Article


  • Authors: Nguyễn, Bá Diến; Nguyễn, Hùng Cường (2009)

  • Trên cơ sở quy định của Công uớc Luật biển năm 1992 và các nguyên tắc của pháp Luật quốc tế hiện đại, bài viết giới thiệu những vấn đề chung về cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển, giới thiệu mô hình các cơ quan giải quyết tranh chấp và đề xuất một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp biển vào bối cảnh thực tế ở biển Đông.

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Bá Diến (2009)

  • Khái niệm “đảo”, “quần đảo”, “quốc gia quần đảo” và các khái niệm pháp lý liên quan (“đảo nhân tạo”, “thiết bị công trình trên biển”, “bãi cạn nửa chìm nửa nôi”…) cùng quy chế pháp lý của chúng là những vấn đề phức tạp, chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc, thấu đáo trong khoa học luật biển quốc tế tại Việt Nam. Chính vì vậy, với việc làm rõ những khái niệm pháp lý này, phân tích đặc điểm và các yếu tố cấu thành cùng quy chế pháp lý của chúng trong tiến trình lịch sử phát triển của luật biển quốc tế, tác giả đã đưa ra sự nhận xét, đánh giá đối với trường hợp của Việt Nam. Tác giả cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa không phải là “quần đảo” hay “quốc gia quần đảo” mà phải được coi là “vùng đảo” theo tinh thần của Công ước Luật biển năm 1982; đồng thời tác giả còn phân tích cụ thể hiệu lực ...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Bá Diến; Nguyễn, Hùng Cường (2017)

  • Các tác giả nhấn mạnh vị trí và vai trò của biển và đại dương đối với sự sinh tồn và phát triển của các quốc gia trong thế kỷ XXI, vị trí, vai trò của biển Đông đối với Việt Nam; đánh giá các tranh chấp hiện tại trên Biển Đông, đặc biệt là trước tham vọng bá quyền và bành trướng của Trung Quốc, và những tác động, ảnh hưởng của chúng tới chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam. Từ đó, các tác giả phân tích vai trò của khoa học pháp lý trong chiến lược tiến ra biển, làm chủ biển và xây dựng sức mạnh biển của Việt Nam và cơ sở của việc vận dụng khoa học pháp lý trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, từ đó các tác giả đã đưa ra các hệ giải pháp để phát huy tiềm lực khoa học pháp lý nhằm phục vụ chiến lược tiến ra biển, làm chủ biển và đấu tranh bả...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Bá Diến; Đồng, Thị Kim Thoa (2017)

  • Bài viết trình bày khái quát và đặc điểm của chính sách, pháp luật biển Trung Quốc; qua đó, làm sáng tỏ tính trái pháp luật quốc tế nhìn từ góc độ các nguyên tắc cơ bản và đặc thù của luật quốc tế nói chung và luật biển quốc tế nói riêng, được quy định cụ thể trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Từ đó, bài viết đi đến kết luận rằng: Nội dung xuyên suốt trong chính sách, pháp luật biển của Trung Quốc là tư tưởng bá quyền và chủ nghĩa “Đại Hán”, thể hiện tham vọng bành trướng trên biển; mặc dù đã sử dụng nhiều xảo thuật nhưng vẫn không thể che đậy tính trái pháp luật quốc tế cũng như sự vô trách nhiệm của quốc gia này trước cộng đồng quốc tế

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Bá Diến (2009)

  • Với sự ra đời của Công ước Luật biển 1982, các quốc gia ven biển được phép mở rộng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Điều này khiến cho Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ tồn tại vùng biển chồng lấn. Vì vậy, cùng với việc ký kết hiệp định phân định ranh giới biển, hai bên cũng đã ký Hiệp định hợp tác nghề cá vào ngày 25/12/2000. Vùng biển Việt Nam còn nhiều khu vực có triển vọng khai thác chung, đặc biệt là khai thác chung nghề cá. Đứng trước triển vọng hợp tác đó, đòi hỏi Việt Nam cần có sự chuẩn bị chu đáo cả về chính sách luật pháp và thực tiễn. Trong bài viết này, thông qua việc đánh giá tổng quan tình hình đàm phán, ký kết, thực thi Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung Quốc, tác giả mong muốn rút ra một số bài học kinh nghiệm để Việt Nam vừa có v...

  • Article


  • Authors: Nguyễn, Bá Diến; Nguyễn, Hùng Cường (2017)

  • BLTTHS 2015 qui định nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong TTHS (Điều 33) đã hình thành nên cơ chế giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử đối với hoạt động TTHS. Với cơ chế giám sát này, đã phát huy tích cực vai trò giám sát đối với hoạt động TTHS, đã hạn chế được sự lạm quyền trong hoạt động TTHS của các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, phát hiện vi phạm, kịp thời yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục. Tuy nhiên, thực tế hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự còn nhiều bất cập, hạn chế làm cho chất lượng tố tụng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn; quyền con người, quyền công dân còn bị xâm phạm, lợi ích nhà nước và trật tự pháp luật chưa được bảo đảm, công ...