Search

Current filters:

Search

Item hits:
  • Article


  • Authors: Yayoi Sakiyama; Nguyen K.N. Thao; Nguyen M. Giang; Shinj Miyadoh; Duong V. Hop; Katsuhiko Ando (2009)

  • Three actinomycetes, designated strains VN05A0342, VN05A0351 and VN05A0415T, were isolated from plant-litter samples collected in the north of Vietnam and examined in a polyphasic taxonomic study. Phylogenetic analysis based on the 16S rRNA gene sequences showed that these isolates were most closely related to the type strain of Kineosporia mikuniensis (98.5% sequence similarity). Morphological properties (the formation of spore domes and motile spores) and chemotaxonomic data supported the assignment of the three isolates to the genus Kineosporia.The isolates all contained the following: meso-diaminopimelic acid in the peptidoglycan (with small amounts of the LL isomer); ribose, mannose, galactose and glucose as the whole-cell sugars; MK-9(H4) as the predominant isoprenoid quino...

  • Article


  • Authors: Hoàng, Thanh Tú; Trịnh, Tam Kiệt (2009)

  • Nấm phễu da báo Lentinus tigrinus (Bull.) Fr. thuộc chi Lentinus Fr. có khoảng 40 loài phân bố rất rộng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam mới ghi nhận được khoảng 20 loại. Nấm phễu da báo là một loài nấm mọc hoang dại, rất hay gặp, có thể ăn được khi non, thường được gọi là nấm dai. Đây cũng là đối tượng được dùng để nghiên cứu sinh lý phát triển ở nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới. Việc nghiên cứu sâu hơn về sự mọc, sự hình thành quả thể và đặc điểm sinh hoc của chúng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rõ rệt. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số chủng nấm phễu da báo Lentinus tigrinus (Bull.) Fr." nhằm góp phần giải quyết vấn đề này.

  • Article


  • Authors: Trịnh, Tam Bảo; Graefe, U.; Trịnh, Tam Kiệt (2009)

  • Chi nấm ống nhỏ Microporus P. Beauv. (1805) bao gồm các loài nấm gỗ có bào thể (Hymenophor) dạng ống mịn, kích thước rất nhỏ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới với khoảng 11 loài trên toàn thế giới. Chúng thường mọc thành từng đám trên gỗ mục của các cây và cành đổ trong rừng. Chúng có quả thể chất gỗ-bì dai tồn tại khá lâu và màu sắc đẹp, số lượng lớn nên thường được dùng để trang trí nội thất. Chính vì thế, việc nghiên cứu sâu hơn về nhóm nấm này nhằm bảo tồn và khai thác nguồn gen cũng như bước đầu tìm hiểu các chất có hoạt tính sinh học của chúng là một đòi hỏi bức thiết.

  • Article


  • Authors: Lê, Xuân Thám; Nguyễn, Lê Quốc Hùng; Đặng, Ngọc Quang; Đào, Thị Lương (2009)

  • Họ Linh chi Ganodermataceae là một họ tương đối trẻ và đang phân hóa, có nhiều loài được định danh khi thì thuộc chi Ganoderma, khi thì thuộc chi Amauroderma. Thực ra nếu phân tích chi tiết cấu tạo của bào tử và thể quả thì có thể nhận thấy có một nhóm loài trung gian giữa hai chi Ganoderma và Amauroderma. Về cơ bản ý tưởng về sự giao hòa của các chi từ thập niên trước đã phân tích trong quá trình phân hóa dạng sống của chúng [16]. Loài nấm linh chi đen - Amauroderma subresinosum (Murr.) Coener cũng hiếm gặp [1,2], được phát hiện lần đầu ở vườn Quốc gia Cát Tiên vào cuối mùa mưa năm 2004, có nhiều nét phân hóa như những dạng trung gian giữa hai chi: Ganoderma và Amauroderma. Trong công trình này, chúng tôi bổ sung các dẫn liệu hình thái giải phẫu các bộ mẫu vật bản địa Việt Nam, mớ...

  • Article


  • Authors: Trịnh, Tam Kiệt; Trần, Đông Anh; Dương, Thị Thanh Nga; Thân, Thị Chiển; Lưu, Thanh Huyền; Trịnh, Thị Tam Bảo (2009)

  • Nấm phiến chi còn được gọi là nấm Chân chim, nấm Ve thuộc chi Schizophyllum Fr. (1821), họ Schizophyllaceae có khoảng 5 loài trên toàn thế giới trong đó loài phổ biến nhất là Schizophyllum commune Fr. có khu phân bố toàn thế giới, là đối tượng nghiên cứu sinh lý phát triển, di truyền lý tưởng. Nấm phiến chi còn là loài nấm dược liệu quý, từ đó chiết suất ra chế phẩm Schizophyllan có tác dụng tăng cường điều hòa miễn dịch, góp phần chống ung thư (Wasser). Gần đây những nghiên cứu mới công bố còn cho biết Nấm chân chim ở dạng sợi có thể gây bệnh nguy hiểm trên cơ quan hô hấp của người (Kern et al). Chính vì thế, việc nghiên cứu loài nấm này ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đáng kể.

  • Article


  • Authors: Nguyễn Quỳnh Uyển; Nguyễn Xuân Trường; Phan Thị Hà; Nguyễn Huỳnh Minh Quyên; Trần Quốc Việt (2009-07-09)

  • Trong bài báo này, một số tính chất của protease ngoại bào được sinh tổng hợp từ chủng vi khuẩn Bacillus sp như nhiệt độ tối ưu, (55 độ C), pH tối ưu (7-8) và độ bền nhiệt đã được công bố. Bên cạnh đó, protease ngoại bào này cũng được tinh sạch bước đầu qua cột sắc ký lọc gel Sephadex G-50. Hơn nữa, lần đầu tiên tại việt Nam, việc sử dụng hóa chất gây đột biến NTG trên đối tượng vi khuẩn được công bố trên tạp chí khoa học. Các thông số của quá trình gây đột biến như nồng độ NTG (0.5mg/ml), thời điểm tác động vào vi sinh vật (giữa pha log) và pha thời gian tác động của TNG vào vi khuẩn (6 giờ) đã được tối ưu hóa. Sau khi gây đột biến bằng TNG và sàng lọc, hai chủng vi khuẩn đột biến có hoạt độ phân giải protein cao hơn 1.5 lần và 2 lần so với hoạt độ của chủng gốc đã thu được.

  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Tuyền; Nguyễn Minh Giảng; Đinh Thúy Hằng (2009-10-08)

  • Hai chủng vi khuẩn IN2 và IN12 được phân lập từ bùn đáy nước ngọt, đại diện cho hai nhóm vi khuẩn chính tham gia chu trình chuyển hóa sắt tại đây, bao gồm khử Fe(III) bằng các hợp chất hữu cơ và oxi hóa Fe(II) bằng nitrate. Hai chủng vi khuẩn nói trên có đặc điểm sinh lý hoàn toàn khác biệt nhau. chủng IN2 được phân lập từ mẫu bùn chân ruộng ngập nước là trực khuẩn, sinh trưởng kỵ khí bắt buộc bằng Fe(III) hoặc nitrate, thích hợp với môi trường có nồng độ muối cao hơn 1%. Chủng IN12 được phân lập từ mẫu bùn đáy ao nước ngọt là vi khuẩn kỵ khí tùy tiện, có tế bào hình ovan và thích hợp với môi trường có nồng độ muối từ 0-3%. Chủng IN12 thể hiện hoạt tính khử nitrate, oxi hóa Fe(II) cao, do đó có tiềm năng ứng dụng thực tế trong việc xử lý các nguồn nước nhiễm nitơ và ion kim loại Fe(...