Search

Current filters:

Search

Item hits:
  • Article


  • Authors: Nguyễn Minh Giảng; Nguyễn Thị Hằng; Phan Thị Phương Hoa; Đinh Thúy Hằng (2012)

  • Vi khuẩn oxi hóa sulfide hiếu khí và quang hợp kỵ khí được làm giàu từ mẫu giếng khoan nhiễm sắt và mẫu bùn đáy hồ Ba Mẫu trong môi trường khoáng dịch thể chứa thiosulfate và sulfide tương ứng là chất cho điện tử duy nhất. Hai chủng vi khuẩnT3 (hiếu khí) và P7 (quang hợp kỵ khí) được phân lập và tinh sạch tương ứng từ các mẫu làm giàu nói trên thể hiện khả năng oxi hóa cao đối với sulfide trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí. Chủng T3 oxy hóa sulfide thành sulfate tích lũy trong dịch nuôi và làm giảm pH của môi trường, trong khi đó chủng P7 chuyển hóa sulfide thành sulfur trữ ở dạng hạt trong tế bào và có thể quan sát được dưới kính hiển vi. Cả hai chủng đều có khả năng sinh trưởng ở môi trường có nồng độ sulfide cao (ở mức ức chế với nhiều loài sinh vật). Đặc biệt chủng P7 có khả nă...

  • Article


  • Authors: Dennis Enning; Hendrik Venzlaff; Julis Garrelfs; Hang T. Dinh; Volker Meyer; Karl Mayrhofer; Achim W. Hassel; Martin Stratmann; Friedrich Widdel (2012-04-17)

  • Iron (Fe°) corrosion in anoxic environments (e.g. inside pipelines), a process entailing considerable economic costs, is largely influenced by microorganisms, in particular sulfate-reducing bacteria (SRB). The process is characterized by formation of black crusts and metal pitting. The mechanism is usually explained by the corrosiveness of formed H2S, and scavenge of 'cathodic' H2 from chemical reaction of Fe° with H2O. Here we studied peculiar marine SRB that grew lithotrophically with metallic iron as the only electron donor. They degraded up to 72% of iron coupons (10 mm x 10 mm x 1 mm) within five months, which is a technologically highly relevant corrosion rate (0.7 mm Fe°/year), while conventional H2-scavenging control strains were not corrosive. The black, hard mineral crust ...

  • Article


  • Authors: Thái Mạnh Hùng; Tạ Mạnh Hiếu; Phạm Văn Ánh; Nguyễn Hữu Tuyên; Nguyễn Việt Anh; Đinh Thúy Hằng (2012)

  • Bùn cặn và rác sinh hoạt là những nguồn thải hữu cơ đang gây ô nhiễm ở mức báo động tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu này, công nghệ lên men kỵ khí ở nhiệt độ cao (55⁰C) được lựa chọn để thử nghiệm kết hợp xử lý hai loại nguồn thải trên. Thí nghiệm được tiến hành trên hệ thống xử lý có dung tích 1000l với nguồn thải nạp ban đầu là hỗn hợp bùn bể tự hoại và rác hữu cơ nghiền nhỏ theo tỷ lệ 1:1 (v:v). Kết quả thí nghiệm cho thấy quá trình tạo khí sinh học đạt tỉ lệ CH4 cao (trên 70%) sau khi điều kiện pH trong bể phản ứng được ổn định ở mức 7-7,2 và có sự hỗ trợ của nguồn vi sinh vật đã được thích nghi trước với cơ chất và điều kiện nhiệt độ cao. Sau 50 ngày vận hành , 80,7% COD trong nguồn thải đã được loại bỏ. Vi sinh vật sinh methane trong bể...

  • Article


  • Authors: Le Phuong Chung; Nguyen Quynh Uyen; Nguyen Huynh Minh Quyen; Nguyen Thi Van; Dinh Thuy Hang (2012)

  • In this study, 424 actinomycete strains isolated from soil and litter samples on Catba island (Haiphong, Vietnam) were subjected to the screening for the inhibitory activities against microorganisms, including bacteria (Micrococcus luteus, and Escherichia coli) and eukaria (Candida albicans and Fusarium oxysporium). Through two screening steps, 17 strains were selected for their high inhibitory activity against one or more target microorganisms. Crude extracts in ethyl acetate from culturing media of the selected strains were analyzed via thin-layer chromatography (TLC) and high performance liquid chromatography (HPLC), in which chloramphenicol, kitasamycin, erythromycin and raw extract of anthracycline were used as standards. The obtained results showed that antibiotic substances p...

  • Article


  • Authors: Đào Thị Lương; Trần Thị Lệ Quyên; Hà Thị Hằng; Dương Văn Hợp (2012-04-05)

  • Chủng xạ khuẩn X118 sinh ra xylanase chịu nhiệt được phân lập từ đất, được định tên là Streptomyces misionensis dựa vào các đặc điểm hình thái, nuôi cấy, sinh lý, sinh hóa và dựa vào phân tích trình tự ADNr 16S. Trong lên men xốp, chủng Steptomyces misionensis X118 sản sinh xylanase cao nhất (1.223U/g cơ chất) trên cơ chất gạo lức, ở độ ẩm 50% bằng dung dịch MA3, sau 3 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ 40⁰C, lượng giống cấy tối ưu là 15%. Hoạt tính xylanase được kích hoạt khi môi trường lên men xốp có bổ sung thêm nguồn ammonium sulfate, cao thịt và urê. Trái lại, hoạt tính xylanase bị ức chế khi bổ sung thêm các nguồn cacbon là glucose, D-lactose, D-manitol, saccharose và xylose. Những kết quả này đã chứng minh enzyme từ chủng X118 có nhiều tiềm năng ứng dụng vào sản xuất thức ăn gia súc.

  • Article


  • Authors: Phan Thị Thu Mai; Trần Thị Lệ Quyên; Trịnh Thành Trung; Đào Thị Lương (2012-04-05)

  • Từ 346 chủng vi khuẩn Bacillus phân lập từ Sapa, Ba Vì và Phú Quốc đang lưu giữ ở Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật, chúng tôi đã sàng lọc được 91 chủng vi khuẩn sinh trưởng ở 40⁰C và chọn được chủng Bacillus sp. SP1901 sản sinh phytase bền nhiệt ở 60⁰C. Điều kiện thích hợp cho lên men xốp sản sinh Phytase của chủng SP 1901 là cơ chất ngô vỡ (đạt 4,68U/g), độ ẩm cơ chất thích hợp là 50%, thời gian lên men là 84 giờ và tỷ lệ giống cấy là 10-20%. Phytase sản sinh nhiều hơn khi môi trường lên men có bổ sung thêm nguồn nito là ure và NH4NO3 và nguồn cacbon là glycerol, lactose và manitol. Ion Ca2+ có vai trò quyết định đối với quá trình sinh tổng hợp phytase.

  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt (2012-11-12)

  • Trong số các loài nấm lớn, họ nấm tán Pluteaceae được biết đến gồm các loài nấm có kích thước nhỏ đến trung bình, có phiến đính tự do và bào tử màu hồng. Họ pluteaceae bao gồm 2 chi Volvariella và Pluteus có phân bố rộng rãi và 2 chi Chamaeota và Volvopluteus mới được mô tả năm 2011 dựa trên các kết quả của các phân tích về sinh học phân tử còn chưa được dẫn ra trong từ điển nấm của Kirk và các tác giả khác. Trong các loài thuộc họ này, loài Volvariella volvacea được chú ý hơn cả bởi giá trị dược liệu và giá trị thực phẩm của nó, loài này có khu phân bố rộng rãi và cho phép nuôi trồng chủ động với số lượng ngày càng lớn nên có ý nghĩa kinh tế cao. Việc nghiên cứu thành phần loài nấm thuộc họ Pluteaceae hầu như mới chỉ ở mức độ nêu lên danh lục một số loài gặp trong tự nhiên. Trịnh T...