Search

Current filters:

Search

  • previous
  • 1
  • next
Item hits:
  • Article


  • Authors: Cồ Thị Thùy Vân; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2009)

  • Chi nấm Ngọc Châm Hypsizygus Singer 1947 mới được tách ra từ chi Lyophylum trước kia thuộc họ Tricholomataceae, hiện nay được Kirk và các tác giả khác xếp vào họ Lyophylaceae, gồm 3 loài nấm phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu. Nấm Ngọc Châm Hypsizygus marmoreus Singer là một loại nấm ăn có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao, được người tiêu dùng ở nhiều nước rất ưa chuộng. Loài nấm này được trồng đầu tiên ở Trung Quốc sau đó được trồng ở Nhật Bản, các nước Bắc Mỹ và Châu Âu. Ở VIệt Nam, việc nghiên cứu, ứng dụng loài nấm này trong sản xuất còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi trồng nấm Ngọc Châm là cơ sở cho việc định hướng để chọn tạo giống nấm và triển khai sản xuất trong điều kiện nuôi trồng nước ta.

  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Cồ Thị Thùy Vân; Trịnh Tam Kiệt (2012-07-20)

  • Nấm sò vua có tên khoa học là Pleurotus eryngii, là loại nấm ăn ngon, giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao gấp 4-6 lần loại rau thông thường khác. Quả thể nấm Sò vua có kích thước lớn, hình dạng đẹp. Do những ưu điểm này mà nấm được gọi là "King Oyster mushroom". Nấm Sò vua còn chứa đủ 8 loại axit amin không thay thế. Chính vì vậy, việc nuôi trồng nấm sò vua và nấm sò nói chung đang được đẩy mạnh ở Việt Nam. Nhu cầu giống nấm sò rất lớn. Vì thế bên cạnh nhân giống theo phương pháp truyền thống, việc nhân giống nấm trong dung dịch đang được đặt ra khá bức thiết.

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Thân Thị Chiển; Ngô Xuân Nghiễn; Nguyễn Thị Bích Thùy (2011-11-01)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr) P.Kumm bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên thân gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là Pleurotus ostreatus, Pleurotus sajorcaju, Pleurotus pulmonarius và đặc biệt trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng có khả năng thích nghi với biên độ nhiệt rộng. Pleurotus ostreatus (Jacq) Quel là một loại dị tản hai yếu tố (bifactorial heterothalism) được xác định đầu tiên bởi Vandendries (1933). Trên đảm hình thành 4 đảm bào tử, thuộc 4 dãy khác nhau (tretrapolar). Khi gặp điều kiện thuận lợi các bào tử đảm này nảy mầm cho hệ sợi đơn bội, có vách ngăn không có khóa. Các sợi đơn bội này nếu mọc riêng rẽ nhìn chung bất thụ và không hình thành bào tử hữu tính. Khi...

  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Các loài nấm dược liệu của Việt Nam đã được xác định bao gồm 210 loài [4], thuộc Nấm bất toàn (Mitosporic Fungi), Nấm Nang (Ascomycota), Nấm Đảm (Basidiomycota); trong đó ưu thế tuyệt đối thuộc về nấm Đảm (Basidiomycota) với 203 loài thuộc lớp Agaricomycetes. Trong Agaricomycetes, ưu thế loài thuộc về các bộ: Hymenochaetales, Poriales, Polyporales, Russulales, Agaricales… Các loài nấm dược liệu của Việt Nam sống trên gỗ (cây sống và đã chặt hạ, gãy đổ, chết…) chiếm ưu thế rõ rệt; trong đó có các loài có quả thể chất bần (lie), chất bì dai, chất gỗ có số lượng và trữ lượng lớn và rất giàu các chất có hoạt tính sinh học. Nhiều loài nấm dược liệu của Việt Nam có thể phân lập thuần khiết, mọc sợi và hình thành quả thể trên môi trường thạch và giá thể một cách chủ động. Trong số các loài...

  • Article


  • Authors: Cồ Thị Thùy Vân; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Nấm đầu khỉ là loại nấm ưa khí hậu vùng ôn đới, được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Bắc mỹ, Châu Á, nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng, đã và đang được các nước tiên tiến trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình từ phân lập giống, nhân giống, nuôi trồng, bảo quản và chiết suất các chất có hoạt tính sinh học phục vụ nền y học hiện đại. Hiện nay, nấm đầu khỉ được người dân nhiều nước trên thế giới sử dụng như một sản phẩm giàu dinh dưỡng và có giá trị dược liệu khá cao. Nấm đầu khỉ được biết đến như một nguồn dược liệu tự nhiên trong phòng, chữa một số bệnh trong đó có ung thư, các bệnh liên quan đến tiêu hóa, chức năng gan, dạ dầy, mỡ máu, huyết áp, tim mạch... các chủng giống nấm Đầu khỉ đã được du nhập vào nước ta qua nhiều con đường khác nhau, trong...

  • Article


  • Authors: Nguyễn Thị Bích Thùy; Khuất Hữu Trung; Ngô Xuân Nghiễn; Cồ Thùy Vân; Trịnh Tam Kiệt (2012-07-30)

  • The King Oyster mushroom strains was cultivated on agar medium. The experiment results indicated that the King Oyster mushroom mycelium grew best at 26 °C± 1. when the temperature is below 22 degrees, body fruit formation is appeared, body fruit formation of E1-E5 strains do not develop into mature body fruit, E6 strains develop into mature fruit. Studies of genetic diversity in six Pleurotus eryngii strains with 23 RAPD primers. Results obtained: The genetic similarity coefficient of the samples ranged from 0.64 to 0.85; coefficient of genetic similarity of E6 strain with other strains is low (0.64 to 0.68); two samples 3 and 4 have the highest similarity coefficient is 0.85.

  • Article


  • Authors: Vi Minh Thuận; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2010)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr.) P. Kumm. Với một số dạng không hoàn chỉnh hình thành đính bào tử thuộc chi Antromycopsis bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Nấm sò có khu phân bố khá rộng trên khắp thế giới. Nhiều loài nấm ăn quý đồng thời cũng là nấm có giá trị dược liệu và được nuôi trồng rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Chi này chỉ có một loài nấm độc là Pleurotus olearius. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là pleurotus ostreatus, pleurotus sajor – caju, pleurotus pulmonarius và đặc biệt là trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng là loài nấm ăn có khả năng thích nghi với biên độ nhiệt khá rộng nên được nuôi trồng ở vùng ôn đới, cận nhiệt...