Search

Current filters:

Search

  • previous
  • 1
  • next
Item hits:
  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt; Phan Hữu Tôn (2008)

  • Trong sản xuất nuôi trồng và chọn tạo giống nấm rơm ưu thế lai, nghiên cứu các đặc tính sinh học của từng chủng và đa dạng di truyền giữa chúng đóng vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng nấm và sự thành công trong công tác chọn tạo giống. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nấm rơm Volvariella volcacea là loài đồng tản sơ cấp, có mũ nấm rộng, có tốc độ mọc nhanh, có khả năng hình thành hậu bào tử. Nó có thể mọc tốt ở 43 độ C nhưng không thể chịu được nhiệt độ lạnh dưới 10 độ C (S. T. Chang, 1978). Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, sử dụng kỹ thuật AP- PCR đã thu được sự đa hình về các đoạn DNA được nhân lên trong các cơ thể bố mẹ và con lai của 2 loài nấm rơm V. volcacea và V. bombycina. Với mỗi mồi AP- PCR, đã thu được 4-10 đoạn DNA được nhân lên, các đoạn nằm trong khoản...

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Vũ Thị Kim Ngân; Thân Thị Chiển; Trịnh Thị Tam Bảo; Trịnh Tam Anh; Cổ Đức Trọng (2010)

  • Các loại nấm gây bệnh cây rừng ở một số vườn quốc gia, rừng trồng và công viên của một số tỉnh và thành phố mới được cập nhật với khoảng hơn 100 loài. Chúng phần lớn là các loài sống ký sinh, hoại sinh; nhờ hệ men chuyển hóa của mình có khả năng ký sinh gây mục lõi, mục trắng, mục nâu hay mục hỗn hợp ở cây và gỗ đã chặt hạ. Bên cạnh các đại diện nấm lỗ thuộc họ Ganodermataceae, Coriolaceae,... thì các đại diện của họ Hymenochaetaceae cũng đóng vai trò rất quan trọng. Những dẫn liệu về đặc điểm phân loại và sinh học của một loài nấm ký sinh nguy hiểm cho các cây gỗ của rừng và công viên mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam được trình bày dưới đây.

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Thân Thị Chiển; Ngô Xuân Nghiễn; Nguyễn Thị Bích Thùy (2011-11-01)

  • Nấm sò thuộc chi Pleurotus (Fr) P.Kumm bao gồm khoảng 20 loài. Chúng hầu hết đều sống trên thân gỗ, phá hoại gỗ rất mạnh bởi gây nên mục hỗn hợp nhờ hệ enzyme ngoại bào mạnh. Các loài được nuôi trồng chủ yếu là Pleurotus ostreatus, Pleurotus sajorcaju, Pleurotus pulmonarius và đặc biệt trong nhiều năm gần đây là Pleurotus eryngii. Chúng có khả năng thích nghi với biên độ nhiệt rộng. Pleurotus ostreatus (Jacq) Quel là một loại dị tản hai yếu tố (bifactorial heterothalism) được xác định đầu tiên bởi Vandendries (1933). Trên đảm hình thành 4 đảm bào tử, thuộc 4 dãy khác nhau (tretrapolar). Khi gặp điều kiện thuận lợi các bào tử đảm này nảy mầm cho hệ sợi đơn bội, có vách ngăn không có khóa. Các sợi đơn bội này nếu mọc riêng rẽ nhìn chung bất thụ và không hình thành bào tử hữu tính. Khi...

  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt (2012-11-12)

  • Trong số các loài nấm lớn, họ nấm tán Pluteaceae được biết đến gồm các loài nấm có kích thước nhỏ đến trung bình, có phiến đính tự do và bào tử màu hồng. Họ pluteaceae bao gồm 2 chi Volvariella và Pluteus có phân bố rộng rãi và 2 chi Chamaeota và Volvopluteus mới được mô tả năm 2011 dựa trên các kết quả của các phân tích về sinh học phân tử còn chưa được dẫn ra trong từ điển nấm của Kirk và các tác giả khác. Trong các loài thuộc họ này, loài Volvariella volvacea được chú ý hơn cả bởi giá trị dược liệu và giá trị thực phẩm của nó, loài này có khu phân bố rộng rãi và cho phép nuôi trồng chủ động với số lượng ngày càng lớn nên có ý nghĩa kinh tế cao. Việc nghiên cứu thành phần loài nấm thuộc họ Pluteaceae hầu như mới chỉ ở mức độ nêu lên danh lục một số loài gặp trong tự nhiên. Trịnh T...

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Trịnh Tam Anh (2012-08-15)

  • Thành phần loài nấm Việt Nam được công bố trong danh mục các loài thực vật Việt Nam (phần Nấm – Trịnh Tam Kiệt và các tác giả khác, 2001) gồm 2250 loài trong đó có 1250 loài nấm lớn. Sau khoảng một thập kỷ nghiên cứu, số loài nấm nói chung đã ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam khoảng 2500 loài (Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Tam Bảo, 2011) trong đó số lượng các loài nấm tán thuộc Agaricales senu lato khoảng hơn 300 loài. Nếu ước tính số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (theo ước tính của Hawksworth, 1991-2001) thì số loài nấm có thể có trên lãnh thổ lên tới 70.000 loài. Điều đó có nghĩa là hiện nay chúng ta mới ghi nhận được khoảng 1/5 số loài có thể có trên lãnh thổ Việt Nam. Một số chi như Marasmius, Mycena, Amanita,… có thể có số loài từ 300 đến 500...