Search

Current filters:

Search

Item hits:
  • Article


  • Authors: Đoàn Văn Vệ; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • The species of the edible genus fungi Auricularia in differential ecological regions of Vietnam were collected and indentificated. The main characteristics, of basidiospores on the hymenium and hairs on the sterile surface were investigated under scanning electronic microscope. The main species are discribed: Auricularia auricula (Hook) Underw., Auricularia cornea (Fr.) Ehrenb., Auricularia delicata (Fr.) P. Henn., Auricularia fuscosuccinea (Mont.) Farlow., Auricularia polytricha (Mont.) Sacc.), Auricularia mesenterica Petz.: Fr., Auricularia velutina (Lev.) Pat.

  • Article


  • Authors: Đoàn Văn Vệ; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Cùng với mộc nhĩ (Auriculariales), các loài ngân nhĩ (Tremellales) là những nấm ăn quý được coi là thực phẩm cao cấp có giá trị rất cao bởi chứa nhiều muối khoáng và vitamin. Chúng thường có quả thể chất keo, khi khô trở nên chất sừng và bảo quản tương đối dễ dàng. Trước đây các nhà nấm học xếp ngân nhĩ cùng với mộc nhĩ vào lớp phụ nấm cách đảm khuẩn Phargmobasidiomycetidae nhưng gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về hệ thống của chúng. Dưới đây là những kết quả thu được của chúng tôi về nhóm nấm này ở Việt Nam trong thời gian qua.

  • Article


  • Authors: Trần Đông Anh; Trịnh Tam Kiệt; Phan Hữu Tôn (2008)

  • Trong sản xuất nuôi trồng và chọn tạo giống nấm rơm ưu thế lai, nghiên cứu các đặc tính sinh học của từng chủng và đa dạng di truyền giữa chúng đóng vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng nấm và sự thành công trong công tác chọn tạo giống. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nấm rơm Volvariella volcacea là loài đồng tản sơ cấp, có mũ nấm rộng, có tốc độ mọc nhanh, có khả năng hình thành hậu bào tử. Nó có thể mọc tốt ở 43 độ C nhưng không thể chịu được nhiệt độ lạnh dưới 10 độ C (S. T. Chang, 1978). Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, sử dụng kỹ thuật AP- PCR đã thu được sự đa hình về các đoạn DNA được nhân lên trong các cơ thể bố mẹ và con lai của 2 loài nấm rơm V. volcacea và V. bombycina. Với mỗi mồi AP- PCR, đã thu được 4-10 đoạn DNA được nhân lên, các đoạn nằm trong khoản...

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trịnh Tam Bảo (2008)

  • Các loài nấm dược liệu của Việt Nam đã được xác định bao gồm 210 loài, thuộc Nấm bất toàn (Mitosporic Fungi), Nấm nang (Ascomycota), Nấm Đảm (Basidiomycota); trong đó, ưu thế tuyệt đối thuộc về Nấm Đảm (Basidiomycota) với 203 loài thuộc lớp Basidiomycetes. Trong Basidiomycetes, ưu thế loài thuộc về dưới lớp Hymenomycetidae (Agaricomycetidae) thuộc các bộ: Ganodermatales, Hymenochaetales, Poriales, Polyporales và Agaricales. Các loài nấm dược liệu của Việt Nam sống trên gỗ (cây sống và cây đã chặt hạ, gãy đổ, chết...) chiếm ưu thế rõ rệt; trong đó các loài có quả thể chất bần (lie), chất bì dai, chất gỗ có số lượng và trữ lượng lớn và rất giàu các chất có hoạt tính sinh học. Nhiều loài nấm dược liệu của Việt Nam có thể phân lập thuần khiết, mọc sợi và hình thành quả thể trên môi trườ...

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Vietnam is considered as one of countries in the world with the greated biodiversity. Until 2007, about 2300 fungal species were reported from Vietnam including 1300 species of macro fungi (Kiet, 2001, 2007). They have long been valued as tasty food and high effective pharmaceutical material. Many others also are determinated as very dangerous poisonous mushroom. In this paper we would like to give the list of the poisonous mushrooms in Vietnam

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Trần Đông Anh; Phạm Thu Hương; Vũ Thị Kim Ngân; Thân Thị Chiển; Trịnh Thị Tam Bảo; Trịnh Tam Anh; Cổ Đức Trọng (2010)

  • Các loại nấm gây bệnh cây rừng ở một số vườn quốc gia, rừng trồng và công viên của một số tỉnh và thành phố mới được cập nhật với khoảng hơn 100 loài. Chúng phần lớn là các loài sống ký sinh, hoại sinh; nhờ hệ men chuyển hóa của mình có khả năng ký sinh gây mục lõi, mục trắng, mục nâu hay mục hỗn hợp ở cây và gỗ đã chặt hạ. Bên cạnh các đại diện nấm lỗ thuộc họ Ganodermataceae, Coriolaceae,... thì các đại diện của họ Hymenochaetaceae cũng đóng vai trò rất quan trọng. Những dẫn liệu về đặc điểm phân loại và sinh học của một loài nấm ký sinh nguy hiểm cho các cây gỗ của rừng và công viên mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam được trình bày dưới đây.

  • Article


  • Authors: Trịnh Tam Kiệt; Phan Văn Hợp (2008)

  • Chi nấm Ly Cookeina thuộc họ Sarcoscyphaceae (Pezizales) là một chi nấm có khu phân bố liên nhiệt đới bao gồm 7 loài đã được ghi nhận trên toàn thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng đặc trưng bởi có quả thể (nang quả) hình ly, có thể phủ lông thô hoặc lông mịn và có hoặc không có lớp nhày ở phía ngoài mô. Lớp bào tầng ở phía trong ly thường có chứa sắc tố carotenoid với các sắc độ rất khác nhau giữa các loài thậm chí ngay trong cùng một loài. Những nghiên cứu sinh học phân tử sử dụng rDNA, ITS và r DNA LSU sequences cho thấy mối quan hệ chủng loại của chúng [5]. Ở Việt Nam các loài Cookeina thường mọc trong rừng mưa ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới trên các cành và gốc cây mục đơn độc hay thành từng đám. Chúng là một trong những nấm đẹp nhất rừng. Ở đây ch...

  • Article


  • Authors: Trần Thị Lệ Hằng; Trịnh Tam Kiệt (2008)

  • Cho đến nay Việt Nam mới ghi nhận được hơn 2300 loài nấm lớn [3], riêng ở vùng Nghệ An số công trình nghiên cứu về nấm còn rất hạn chế. Thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò đều có chế độ nhiệt đới gió mùa điển hình với "gió Lào" có những ngày nắng nóng oi bức. Nghiên cứu thành phần loài nấm tại thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò góp phần bổ sung những thông tin mới về khu hệ nấm Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung.

  • Article


  • Authors: Cồ Thị Thùy Vân; Nguyễn Thị Bích Thùy; Trịnh Tam Kiệt (2009)

  • Chi nấm Ngọc Châm Hypsizygus Singer 1947 mới được tách ra từ chi Lyophylum trước kia thuộc họ Tricholomataceae, hiện nay được Kirk và các tác giả khác xếp vào họ Lyophylaceae, gồm 3 loài nấm phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu. Nấm Ngọc Châm Hypsizygus marmoreus Singer là một loại nấm ăn có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao, được người tiêu dùng ở nhiều nước rất ưa chuộng. Loài nấm này được trồng đầu tiên ở Trung Quốc sau đó được trồng ở Nhật Bản, các nước Bắc Mỹ và Châu Âu. Ở VIệt Nam, việc nghiên cứu, ứng dụng loài nấm này trong sản xuất còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi trồng nấm Ngọc Châm là cơ sở cho việc định hướng để chọn tạo giống nấm và triển khai sản xuất trong điều kiện nuôi trồng nước ta.